Ký ức người lính biển
Trong ngôi nhà khá khang trang tại thôn Đông Phú, xã Quang Phú (TP. Đồng Hới), ông tiếp chuyện tôi với những kỷ niệm đầy ắp về một thời trận mạc. Ông với tôi vốn có họ hàng gần gũi, làm hàng xóm láng giềng với nhau gần chục năm dư, nhưng biết về ông lại quá ít, càng ít biết đến những người lính hải quân năm xưa với tàu nhỏ, trang bị thô sơ, vũ khí hạn chế lại giáng trả cho đế quốc Mỹ những đòn thất bại nặng nề.
Ông tên Phạm Xuân Phục, sinh năm 1938, nguyên thượng úy Hải quân nhân dân Việt Nam. Sau hòa bình, trở về địa phương, ông tham gia rất nhiều hoạt động ở xã Quang Phú. Nay ông Phục là Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi thôn Đông Phú, với những người bạn già, cùng là lính trong thôn, trong xã vui cùng cháu con, “tuổi già nêu gương sáng”, vẫn mãi mãi xứng danh Bộ đội Cụ Hồ.
Tháng 3-1959, ông Phục nhập ngũ, biên chế về Đại đội 6 đo đạc biên vẽ hải đồ và nghiên cứu biển (tiền thân của Đoàn đo đạc biên vẽ hải đồ và nghiên cứu biển, trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân hiện tại). Đại đội 6 trang bị các tàu trọng tải nhỏ, trong đó có chiếc tàu vỏ sắt P527, trọng tải 50 tấn do đồng chí Bùi Gia Anh làm thuyền trưởng, các thiết bị chuyên dụng đều của Liên Xô, Trung Quốc viện trợ như máy đo sâu hồi âm Nel-2, Nel-3 dùng đo đạc cửa sông, trong sông, thăm dò luồng lạch, trinh sát tìm chỗ tàu neo đậu, trú ẩn...
Ông Phục và liệt sỹ Hoàng Duy Quý (hy sinh ngày 5-8-1964 tại cửa Roòn) là hai cán bộ đo sâu kỳ cựu nhất trong Đại đội 6 lúc bấy giờ. Ông Phục kể lại: “Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ 4-8-1964, đế quốc Mỹ vu cáo tàu hải quân ta cố ý tấn công tàu khu trục Mỹ ngoài biển Đông để kiếm cớ trả đũa, mở rộng chiến tranh phá hoại ra toàn miền Bắc.
Bộ Tư lệnh Hải quân quyết định điều hai chúng tôi đi nhận nhiệm vụ mới: tăng cường cho khu vực biển Hòn La, Roòn, sông Gianh... Quảng Bình. Tôi lúc này đóng quân tại đảo Gia Luận ở Hòn Gai (Quảng Ninh), Hoàng Duy Quý ở Hải Phòng gần Bộ Tư lệnh hơn nên có mặt sớm và vào trước. Không ngờ trận đánh đó Hoàng Duy Quý lại hy sinh”.
Tàu P527 của Đại đội 6 đang đo đạc ở cửa Roòn thì máy bay địch lao tới. Tốp thứ nhất cắt bom xuống tàu P527. Tốp thứ hai bay dọc Trường Sơn lên phía thượng nguồn sông Gianh rồi quay ngược lại đánh phá các tàu hải quân đóng tại sông Gianh. Tàu P527 mặc dù chỉ trang bị súng trung liên nhưng vẫn kiên quyết đánh trả.
Ngay loạt rốc két đầu, Hoàng Duy Quý bị dính đạn, một mảnh đạn tiện đứt chân, nhiều đồng đội của anh lần lượt bị thương ngay sau đó. Thuyền trưởng Bùi Gia Anh ra lệnh thả khói mù, điều khiển cho tàu cơ động vào gần bờ. Được sự yểm trợ của dân quân xã Cảnh Dương, tàu P527 vừa chiến đấu, vừa nhanh chóng thoát ra vùng lưới lửa máy bay Mỹ trở vào cảng Gianh an toàn.
Ông Phục nhớ rất rõ trận đánh không cân sức giữa tàu P527 với máy bay địch, diễn ra lúc 12 giờ trưa ngày 5-8. Khoảng 16 giờ 10 phút, máy bay Mỹ tiếp tục lao vào đánh phá các tàu hải quân neo đậu tại khu vực sông Gianh. Lực lượng Hải quân ta gồm các Phân đội 6, 7 và tàu P527 chống trả quyết liệt. Ngày 5-8-1964, trận thử sức đầu tiên với lực lượng không quân, hải quân Mỹ, Hải quân nhân dân Việt Nam chiến thắng giòn giã. Ngày 5-8 sau này trở thành ngày kỷ niệm, một mốc son trong lịch sử - ngày đánh thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam và của quân dân miền Bắc.
Tại cửa sông Gianh, sau khi trận chiến kết thúc, tàu P527 và Khu tuần phòng 2 tổ chức làm lễ truy điệu cho liệt sỹ Hoàng Duy Quý.
Cảng sông Gianh sau năm 1964 trở thành mục tiêu bắn phá, khiêu khích của máy bay, tàu chiến Mỹ. Năm 1969, đầu 1970 ông Phạm Xuân Phục nhiều lần được đơn vị cử vào sông Gianh thực hiện nhiệm vụ đo sâu, khai mở luồng lạch, tìm vị trí ẩn náu cho các tàu hải quân, tàu quốc tế viện trợ cho nhân dân Việt Nam vào ra.
Bước sang năm 1971-1972, một bộ phận Đại đội 6 gần như bám trụ tại sông Gianh, thành lập các tổ quan sát thông báo tình hình máy bay Mỹ thả thủy lôi, vị trí thủy lôi rơi, cùng công binh hải quân và các lực lượng cảm tử khác tháo gỡ hàng trăm quả thủy lôi, bom mìn ở vùng cửa sông.
Ông Phục tự hào nhớ lại: “Hải quân nhân dân anh hùng, trong bất kỳ tình huống nào vẫn luôn chủ động, sẵn sàng đập tan những âm mưu của kẻ thù. Không những chờ sẵn máy bay Mỹ đến gây rối để đánh mà còn mưu trí, sáng tạo trong cách đánh, chủ động xuất kích tìm đánh tàu địch.
Giai đoạn 1971-1972, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Mai Xuân Vĩnh, Chỉ huy trưởng Hải quân vùng 4, các tàu hải quân ta âm thầm huấn luyện, chờ ngày xuất kích đánh địch. Phân đội 23 sông Gianh được phân công đảm nhận nhiệm vụ này. Tôi lúc đó thôi làm công tác đo sâu nữa, chuyển hẳn sang làm thuyền trưởng phụ trách tàu tuần tiễu C36 thuộc Phân đội 23, truy tìm dấu vết tàu địch, vũ khí trang bị cho các tàu hải quân lúc đó chủ yếu là thủy lôi. Chúng tôi xuất kích phá hủy hoàn toàn tàu khu trục Oa-rin-tơn DD843, đánh bị thương nặng tàu Giô-dep-xtơ-rao DDG16. Trận đánh cuối cùng của Phân đội 23 diễn ra vào ngày 31-7-1972 trên sông Gianh, tàu của chúng tôi bị thương nặng và chìm tại bến phà 2”.
Rời tàu, ông Phạm Xuân Phục tiếp tục cùng đồng đội tăng cường về các xã biển từ Quảng Đông cho đến Hạ Cờ hướng dẫn dân quân, du kích địa phương dùng thủy lôi đánh tàu Mỹ... Chiến tranh, chiến thắng cuốn lấy ông đi cho đến ngày toàn thắng, đất nước về trong một nhà.
Kể về kỷ niệm chiến tranh, ông Phục bần thần bảo: “Chiến tranh tất nhiên có mất mát, hy sinh nhưng bất cứ sự hy sinh nào của đồng chí, đồng đội cũng đau xót lắm. Tôi lúc nào cũng nhớ canh cánh trong lòng về Hoàng Duy Quý, nếu tôi về trước Quý thì có lẽ anh sẽ không phải hy sinh. Quý được chúng tôi làm lễ truy điệu và an táng tại nghĩa trang liệt sỹ Ba Đồn.
Ngày đó Quý mất để lại nơi hậu phương một người vợ còn rất trẻ... Năm tháng, thời gian trôi qua, tôi chưa một lần trở lại, chẳng biết người vợ trẻ ấy ngày nay thế nào? Nhiều lần về thăm sông Gianh, muốn tìm hỏi thăm nhưng mù mịt quá, biết hỏi ai bây giờ?



