Cựu chiến binh

Ký ức người lính bộ binh trên chiến trường Quảng Nam

kể lại chặng đường chiến đấu của người lính bộ binh trên chiến trường Quảng Nam trong giai đoạn kháng chiến ác liệt nhất cho đến khi giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước

Bắc Ninh17/12/2025Hoàng Thị Duyên (Chi đoàn NHCSXH Quế Võ, đoàn phường Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi sinh năm 1950, lớn lên giữa những năm tháng đất nước còn chìm trong bom đạn và chia cắt. Tuổi thơ tôi gắn với ruộng đồng, với những bữa cơm độn khoai, sắn khô với tiếng mẹ ru con lẫn trong tiếng máy bay gầm rú trên bầu trời. Chiến tranh không hỏi ai đã sẵn sàng hay chưa, nó đến như một định mệnh. Và rồi, đến tháng 4 năm 1970, tôi khoác ba lô lên đường nhập ngũ, trở thành người lính bộ binh, hành quân vào chiến trường Quảng Nam - nơi lửa đạn đang ngày đêm dội xuống ác liệt.

Ngày lên đường, mẹ tôi không khóc. Mẹ chỉ dúi vào tay tôi một túi gạo rang, dặn: “Con đi giữ nước, giữ làng, giữ cả phần mộ tổ tiên. Sống thì về, không thì… mẹ vẫn tự hào”. Tôi quay đi thật nhanh, sợ nếu nhìn lâu hơn, lòng mình sẽ mềm ra, bước chân sẽ chùn lại.

Hành quân vào Quảng Nam là những ngày dài bất tận. Rừng sâu, suối độc, vắt rừng bám đầy chân, sốt rét quật ngã từng người một. Có những đêm nằm võng, tôi nghe tiếng bom vọng từ xa mà nhớ nhà da diết. Nhưng càng đi, tôi càng hiểu rằng mình không còn là cậu thanh niên của làng quê nữa. Tôi là người lính, mang trên vai súng đạn và trách nhiệm với tổ quốc, với những lời mẹ dặn.

Quảng Nam đón chúng tôi bằng mưa bom và nắng lửa. Đất ở đây khô cằn, sỏi đá lởm chởm, làng mạc tiêu điều vì những trận càn của giặc Mỹ bạo tàn. Ban ngày, chúng tôi đào hầm, bám dân, giữ làng. Ban đêm, hành quân, phục kích, đánh rồi rút nhanh vào rừng. Là lính bộ binh, chúng tôi đối mặt trực tiếp với kẻ thù, từng tấc đất giành giật bằng mồ hôi, máu và cả sinh mạng.

Tôi còn nhớ như in trận đánh đầu tiên. Tim tôi đập mạnh đến mức tưởng chừng có thể nghe thấy. Khi tiếng nổ vang lên, mọi sợ hãi bỗng tan biến, chỉ còn lại bản năng của người lính. Tôi bóp cò, lao lên, nghe đồng đội hô nhau trong khói lửa mịt mù. Trận ấy, chúng tôi thắng, nhưng cũng mất đi hai người anh em. Tôi cùng đồng đội thu gom các kỷ vật và chôn cất người đồng đội của mình mà nước mắt tôi cứ rơi như không thể kìm nổi. Đêm đó, tôi ngồi tựa gốc cây, nhìn hai chiếc võng trống, lòng trống trải đến lạ. Chiến tranh dạy tôi hiểu rằng, cái giá của độc lập chưa bao giờ là rẻ.

Những năm ở Quảng Nam, tôi chứng kiến biết bao cảnh đau lòng. Có những ngôi làng bị bom cày nát, trẻ con thất thần, người già ngồi lặng bên đống tro tàn. Dân che chở cho bộ đội bằng tất cả những gì họ có: bát cơm, ngụm nước, hầm bí mật. Có bà mẹ gùi gạo băng rừng tiếp tế cho chúng tôi, vừa đi vừa nơm nớp lo sợ máy bay trinh sát. Chính tình quân dân ấy đã giúp chúng tôi đứng vững giữa lằn ranh sống chết.

Khó khăn nhất không chỉ là bom đạn, mà là bệnh tật và đói khát. Sốt rét rừng hành hạ, có lúc tôi run lên bần bật, răng va vào nhau lập cập. Nhưng nhìn sang bên cạnh, đồng đội vẫn cắn răng chịu đựng, tôi lại tự nhủ: mình không được gục. Có những bữa chỉ có nắm cơm trộn muối, chia nhau từng miếng nhỏ, vậy mà ai cũng thấy ấm lòng.

Nhưng năm cuối của cuộc kháng chiến, chiến trường Quảng Nam vẫn chưa lúc nào yên tiếng súng. Tôi cùng đơn vị tiếp tục bám trụ, đánh nhỏ, đánh chắc vừa chiến đấu vừa bảo vệ cơ sở cách mạng. Dù gian khổ vẫn chống chất, dù nhiều đồng đội đã ngã xuống nhưng niềm tin vào thắng lợi chưa bao giờ tắt trong lòng những người lính như tôi.

Rồi mùa xuân năm 1975 đến, không khí trên chiến trường khác hẳn. Những mệnh lệnh dồn dập, những cuộc hành quân thần tốc nối tiếp nhau. Đơn vị tôi vừa đánh, vừa tiến, giải phóng từng vùng, từng thôn xóm. Lá cờ giải phong tung bay ở nhiều nơi, trong ánh mắt người dân là niềm vui xen lẫn nước mắt.

Sáng 30/4/1975 khi tin miền nam hoàn toàn giải phóng truyền về, tôi lặng người đi trong giây lát. Tiếng súng đã im, bom đạn không còn dội xuống quê hương mình nữa. Giữa mảnh đấy Quảng Nam thấm đẫm máu xương, tôi và đồng đội tôi ôm chầm lấy nhau không ai nói lên lời, nước mắt chúng tôi cứ thế chảy ra không kìm chế nổi, những giọt nước mắt của niềm tự hào và hạnh phúc. Trong giây phút đó, tôi thầm gọi tên từng người đồng chí của mình đã mãi nằm lại nơi này báo với họ rằng Đất nước đã hoà bình rồi.

Cuối cuộc kháng chiến, khi tin chiến thắng lan về, tôi lặng người. Vui mừng có, nhưng nước mắt cũng không kìm được. Tôi nghĩ đến những người không kịp trở về, nghĩ đến mẹ tôi ở quê, nghĩ đến bao năm tuổi trẻ gửi lại rừng núi Quảng Nam. Chúng tôi ôm nhau giữa rừng, những người lính bộ binh áo quần sờn rách, mà lòng nhẹ đi như vừa trút được một gánh nặng lớn.

Sau ngày giải phóng, tôi tiếp tục ở lại còng đơn vị làm nhiệm vụ ổn định địa bàn, giúp dân khắc phục hậu quả chiến tranh. Đến khi hoàn thành nhiệm vụ và được xuất ngũ, ngày rời quân ngũ lòng tôi bâng khuâng khó tả. Tôi vui vì được trở về với gia đình, với bố mẹ và những đứa em nhưng lại buồn khôn siết khi nghĩ đến đồng đội mình đã nằm lại nơi đây, không biết bao giờ tôi mới có cơ hội trở lại thăm.

Tôi trở về làm người dân bình thường với nhiều vết thương trên người nhưng lúc nào cũng tràn đầy nhiệt huyết. Giờ đây, khi tóc đã bạc, mỗi lần nhớ lại thời hoa lửa ấy, tôi vẫn thấy lòng mình rưng rưng. Đó là quãng đời gian khổ nhất, nhưng cũng thiêng liêng nhất. Nếu được chọn lại, tôi vẫn sẽ khoác ba lô lên đường, vẫn sẽ vào Quảng Nam năm ấy, bởi tôi hiểu: có những thế hệ phải đi qua lửa đạn để đất nước được nở hoa trong hòa bình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn