Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Ký ức người lính đặc công

"Xuất quân là thắng vinh quang"... là lời bài hát ngợi ca Đại đội đặc công 202, Tỉnh đội Phú Yên trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; đơn vị đã được Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên dương là Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng, vào tháng 9 năm 1971 và hai đồng chí đại đội trưởng là Lê Trung Kiên và Lương Tấn Thịnh cũng đã được tuyên dương danh hiệu cao quý này vì những thành tích chiến đấu đặc biệt xuất s

Lai Châu03/07/2026Nguyễn Cao Chí (xã nậm mạ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Chương 1
QUÊ HƯƠNG VÀ TUỔI THƠ


Tôi sinh ra và lớn lên ở Thượng Cát, một xã có lịch sử lâu đời của huyện Từ Liêm (nay là phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm), Hà Nội.

Với bao thế hệ, người dân Thượng Cát đã xây dựng nên một làng quê đông đúc bên dòng sông Hồng huyền thoại, với những đình, chùa cổ kính. Hồi trẻ con, những khi nghỉ hè và ngày nghỉ, chúng tôi vẫn thường ra sân đình hay khuôn viên nhà chùa để chơi với nhau.


Làng tôi, cho tới tận những năm đầu thế kỷ 21, vốn là làng thuần nông. Đất bãi ven sông đã trở thành những cánh đồng phì nhiêu trồng lúa và hoa màu, rau quả do sức lao động của người dân cải tạo từ đời này qua đời khác.

Thượng Cát là một miền quê giàu truyền thống yêu nước, kiên cường trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Từ khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống quân Hán xâm lược những năm đầu công nguyên, đến các cuộc kháng chiến chống quân Lương, Nguyên, Minh, Thanh của thời kỳ phong kiến và thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thời kỳ lịch sử hiện đại.


Tôi sinh trưởng trong một gia đình có ba chị em. Tôi là con trai út, trên tôi là hai chị. Tôi được bố, mẹ cho ăn học tử tế. Vào những năm sáu mươi thế kỷ trước, cả xã chỉ có một trường cấp I và hai, ba xã mới có một trường cấp II. Học sinh không đông lắm, mỗi khối học cũng chỉ có hai, ba lớp. Sĩ số mỗi lớp khoảng 40 - 45 học sinh.


Ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc, hòng ngăn chặn cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc ta.

Năm 1966, chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đã tiến hành một bước leo thang rất nguy hiểm, chúng đã đánh phá vào ngoại thành Hà Nội. Tháng 8 năm 1966, máy bay Mỹ đã tấn công trận địa cao xạ ở cánh đồng Nhật Tân, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm, chỉ cách quê tôi có vài cây số. Chính nơi đây ngày nay là đầu cầu Nhật Tân hùng vĩ bắc qua sông Hồng, nối với đường mang tên vị tướng huyền thoại - Võ Nguyên Giáp - tạo thành một con đường đẹp vào loại nhất nhì thủ đô, đi lên sân bay quốc tế Nội Bài. Bị quân ta đánh trả quyết liệt, chúng đã ném bom bừa bãi vào khu dân cư vùng xung quanh, làm hàng chục dân thường thiệt mạng. Ngày đó đã trở thành ngày giỗ chung của nhiều gia đình hai xã Nhật Tân và Phú Thượng.


Sau khi tốt nghiệp lớp 7 (nay là lớp 9) tại Trường cấp II xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm, Hà Nội, tôi cũng như nhiều bạn cùng lớp đăng ký đi học chuyên nghiệp (nay là bậc trung học kỹ thuật - nghề), không học tiếp lên cấp III. Hồi đó vào các loại trường này không phải thi. Tôi đăng ký xin học Trường trung cấp Bưu điện - Truyền thanh, bởi tôi thích nghề này lắm. Nhưng cuộc đời không chiều theo ý muốn cá nhân, tôi lại được Trường trung cấp Hóa chất Lâm Thao, Phú Thọ gọi nhập học. Mặc dù không thích nhưng tôi cũng nhập trường đi học.


Trường sơ tán tại xã Văn Lang, huyện Tam Nông, Phú Thọ. Thời gian này, máy bay Mỹ mở rộng đánh phá trên toàn miền Bắc. Trường tôi học máy bay Mỹ chỉ bay qua, chúng đến đánh bom Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao và Khu công nghiệp Việt Trì. Để bảo đảm an toàn, chúng tôi phải đào hầm để cả lớp học chìm vào lòng đất, đề phòng máy bay Mỹ ném bom.


Thời kỳ đó, học sinh đi học đều được Nhà nước chu cấp học bổng, với nhiều mức khác nhau. Nhưng học bổng rất ít, mỗi học sinh được lĩnh học bổng từ 10 đến 20 đồng. Số tiền này chỉ tạm đủ trang trải cho việc mua rau, mua gạo ăn uống hàng ngày. Sức trẻ ăn nhiều và chẳng mấy khi được ăn thịt, cá, nên lượng gạo tiêu thụ lại càng cao; bây giờ thịt cá trong bữa ăn nhiều, lượng tinh bột giảm đi đáng kể trong khẩu phần ăn. Thời chúng tôi đi học, cơm học sinh chỉ có rau, chỉ khi nào liên hoan mới được ăn thịt, cá. Nhưng gạo lại chỉ được mua theo tiêu chuẩn ít ỏi, học sinh được mua 15kg lương thực mỗi tháng, không phải toàn gạo mà kèm bột mì hoặc ngô, sắn nên đói lắm. Bữa ăn hằng ngày chỉ có rau luộc với nước giếng, ở nơi trường tôi theo học là vùng nước chứa nhiều oxit, nên rau luộc đen xì! Thời ấy buộc phải ăn, chứ còn bây giờ không ai dám thò đũa gắp ăn loại rau luộc đó! Ngoài cơm, chúng tôi được ăn thêm một miếng mì luộc hôi mù mà bọn học sinh chúng tôi lúc đó gọi là "nắp hầm", ném chó không chết!


Tôi làm lớp phó phụ trách học tập, học giỏi nên được học bổng toàn phần là 20 đồng/tháng, tôi thường nhường lại một phần cho các bạn nhà nghèo chỉ được học bổng 10 đồng/tháng, nhà nghèo. Những ngày nghỉ tôi thích đến thăm các bạn đồng hương Hà Nội cùng học trong trường, hoặc đi đào sắn giúp dân. Tôi nhớ nhất món sắn khô giã nhỏ đồ xôi, buổi tối được gia đình bà Thược, anh Đệ ở gần trường cho ăn thấy ngon lắm, nhưng ăn rồi hay bị nóng ruột.


Nơi chúng tôi ở nhân dân trồng nhiều chuối, sắn và cả dứa. Lúc đó hai hào có thể mua được năm quả chuối to, còn dứa hào một quả. Có lần vì đói cơm, tôi ăn liền một lúc 5 quả dứa, ăn xong nhổ nước bọt thấy có lẫn cả máu ở lưỡi tứa ra. Mấy cậu bạn bảo, muốn khỏi rát lưỡi thì chấm dứa với muối trước khi ăn.


Thỉnh thoảng, sau bữa cơm xong, chúng tôi lại rủ nhau ra chợ "cóc" gần cổng trường, mua hoa quả để ăn thêm cho đỡ đói, sức trẻ đang tuổi ăn, tuổi ngủ, có hôm phải ăn tới 5 quả chuối nữa mới đủ no bụng!

Mùa hè năm 1968, sau khi học hết năm thứ hai của chương trình trung cấp ba năm, chúng tôi được về nghỉ phép mười ngày. Lúc chưa hết phép, tôi có giấy nhà trường gọi lên để đi công nhân quốc phòng. Tôi đang ốm nên không lên kịp. Khi trở lại trường, trên đường lên đến Hưng Hóa (Phú Thọ), tôi gặp một số bạn cùng lớp đi công nhân quốc phòng.


Tôi về trường tiếp tục đi thực tập tại Nhà máy Hóa chất Việt Trì. Thực tập xong, có một đơn vị quân đội về khám sức khỏe tuyển đi học phi công, nhưng chúng tôi không ai đủ tiêu chuẩn, vì toàn những người "thấp bé nhẹ cân" như tôi.

Chiến tranh ngày càng khốc liệt, thanh niên được huy động ngày càng nhiều vào quân đội thì "thấp bé nhẹ cân" như tôi cũng "đắt hàng" với các binh chủng không cần tầm vóc to cao như lái máy bay. Những người bị "thiệt thòi" về ngoại hình như chúng tôi vẫn được các đơn vị bộ binh tuyển chọn. Trường tôi đến năm 1968 đã có hai đợt học sinh được lệnh gọi nhập ngũ vào quân đội.


Tình hình chiến sự ở hai miền ngày càng ác liệt, tin tức đánh nhau ở miền Nam và miền Bắc liên tiếp được đài báo cập nhật hàng ngày. Những người khỏe mạnh đủ tiêu chuẩn đều hăng hái viết đơn nhập ngũ và đã lần lượt lên đường. Chúng tôi học tập trong tình trạng sĩ số cứ giảm dần qua các đợt gọi nhập ngũ, ai cũng có tâm trạng bồn chồn, chờ đợi, nên không khí học tập cũng có phần giảm sút.


Thế rồi đợt ba gọi nhập ngũ của trường tôi cũng đã đến. Tôi có danh sách trong đợt tòng quân lần này. Lúc đó tôi người gày lắm, cân nặng chỉ có 43kg thôi, mọi người cho rằng ngữ tôi khó lòng trụ được trong quân đội. Còn tôi thì nghĩ để rồi xem, và tôi tin là mình có thể trụ vững được.


Vợ chồng thầy Ân, chủ nhiệm lớp tôi học, mời tôi ăn bữa cơm chia tay với thầy. Bữa cơm cùng gia đình thầy giáo tuy đơn sơ nhưng thật cảm động! Thầy giáo đã căn dặn tôi nhiều điều khi vào quân ngũ.

Tháng 9/1968, chúng tôi chia tay bạn bè cùng học để lên đường nhập ngũ trong sự lưu luyến thật khó tả giữa người đi và người ở. Các bạn gái gửi tặng chúng tôi những chiếc khăn mùi xoa, khăn rửa mặt, với những dòng chữ thêu như nhắn gửi chúng tôi lời ước hẹn. Với tôi chưa có mối tình với bạn gái nào nên lên đường cảm thấy thanh thản, nhưng trong lòng cũng thấy xao xuyến bùi ngùi.


Từ đây chúng tôi từ giã cuộc đời học sinh, với nhiều mơ mộng và hoài bão của tuổi trẻ, xếp bút nghiên lên đường dấn thân vào cuộc chiến đấu cùng với cả dân tộc ta đánh Mỹ, cứu nước. Khóa học của chúng tôi nếu không đi bộ đội, học xong 3 năm trung cấp, sẽ có nhiều bạn sang Liên Xô học tiếp, vì thời ấy môn hóa tổng hợp hữu cơ, sản xuất chất dẻo là ngành mới của Việt Nam.

Logged

thongdiepthoigian

Thành viên
*
Bài viết: 438


Ký ức người lính đặc công« Trả lời #2 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2025, 07:28:48 pm »
Chương 2
CUỘC ĐỜI QUÂN NGŨ


1. Những ngày tháng luyện rèn trên đất Bắc

Đợt nhập ngũ cùng với tôi, Trường trung cấp Hóa chất Việt Trì có 200 người.

Giờ phút chia tay thật cảm động. Tôi cảm thấy bùi ngùi khi phải chia tay với mái trường thân yêu mà tôi đã có hai năm gắn bó với nhiều kỷ niệm. Chiến tranh đã buộc chúng tôi phải dang dở với những ước mơ rất đẹp tuổi thanh niên.

Tạm biệt mái trường thân yêu, tạm biệt thầy cô và nhân dân nơi đã cưu mang chúng tôi trong những tháng năm học tập ở đây. Buổi lễ tiễn học sinh nhập ngũ của nhà trường diễn ra trang nghiêm và ngắn gọn. Tôi thay mặt những người nhập ngũ đợt này đã phát biểu hứa với lãnh đạo nhà trường, thầy cô giáo và các bạn ở lại rằng, dù khó khăn gian khổ đến đâu, dù phải hy sinh trong chiến đấu, nhưng nhất định sẽ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.


Tôi nhớ anh Duyên là Trung đội trường bộ binh của Sư đoàn 304B, là một trong những cán bộ về nhận quân tại trường tôi.

Hôm ấy, chúng tôi hành quân về tả ngạn sông Cầu. Quá trưa về chiều, gió sông thổi lên mát rượi. Trong lúc cao hứng anh Duyên hát xuyên tạc (nay gọi là hát chế) câu đầu của bài hát Giải phóng miền Nam, với chất giọng đàn ông khê nồng "Bầm ơi, con ngan nhà ta nó què, thịt đi không mai ngày kia nó gày...". Chúng tôi vừa ngạc nhiên, vừa tức cười, sao anh dám hát thế, rồi chúng tôi cũng cùng hát phụ họa theo anh, thì ra đời bộ đội cũng vui nhộn chứ không phải là quá cứng nhắc, quá nghiêm như tôi tưởng.


Trời tối, đoàn tân binh chúng tôi dừng chân tại một làng ven sông Cầu thơ mộng. Đoạn này thuộc huyện Hiệp Hòa tỉnh Hà Bắc cách phố Thắng khoảng 5km (nay là Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang). Chúng tôi được phân ra từng tổ vào nghỉ trong nhà dân. Đơn vị đã cử tiền trạm và liên hệ trước với địa phương, nên việc đến ở trong dân cũng nhanh chóng và được các gia đình niềm nở tiếp đón như con em đi xa trở về.


Sáng hôm sau, chúng tôi được tổ chức biên chế vào các tiểu đội, trung đội, đại đội của Sư đoàn 304B, Quân khu Việt Bắc.

Trung đội trưởng của tôi là anh San, người huyện Thạch Thất, Hà Tây (nay sáp nhập về Hà Nội). Anh là người hiền lành, hay cười vui vẻ với mọi người. Tôi được biết, anh đã từng trải qua chiến đấu ở chiến trường Lào. Lúc rảnh rỗi, anh thường kể cho chúng tôi nghe về những trận chiến đấu anh đã tham gia, nghe thật hấp dẫn.


Trong thời gian huấn luyện tân binh, hàng ngày, chúng tôi được huấn luyện ở thao trường, luyện tập kỹ, chiến thuật chiến đấu bộ binh. Tối đến, sinh hoạt chính trị. Lúc rảnh rỗi, tôi lấy cái điếu bát của gia đình nơi đóng quân, "bắn" thử vài bi thuốc lào, thế là tôi biết hút thuốc từ ngày ấy, và có thâm niên hút thuốc lào đến nay cũng đã nửa thế kỷ.


Vào các ngày thứ Bảy, Chủ nhật cánh lính chúng tôi phải vào rừng kiếm củi, hoặc khênh lợn, thổi cơm giúp anh nuôi. Bọn tôi lúc đó tếu táo với nhau, thượng vàng hạ cám đều đến tay lính, đúng là "nước sông công lính". Cán bộ luôn nói với chiến sỹ: vào bộ đội là vào trường đại học lớn của cuộc đời! Đúng là cái gì chúng tôi cũng được học và được làm!


Những ngày tháng khổ luyện trong thời tiết mưa, nắng đã làm cho da dẻ chúng tôi, những cậu học sinh với màu da trắng đã chuyển sang đen nhẻm, nhưng khỏe mạnh. Đúng là cơm gạo bộ đội, chỉ trong thời gian ngắn sau nhập ngũ, tôi đã tăng trọng từ 43kg lên 47kg, nhưng dáng thư sinh vẫn còn "lưu luyến" trong tôi. Cùng với cái tính hay tranh luận mọi chuyện, nên nhiều khi mấy anh cán bộ cũng không thích tôi lắm, nhất là anh Thành - Tiểu đội trưởng.


Kết thúc đợt huấn luyện, chúng tôi vào trường bắn núi Voi để kiểm tra kết quả. Chúng tôi được kiểm tra xạ kích bằng súng CKC. Bắn 3 viên bia số 6, tôi đạt 26 điểm, đạt loại khá, riêng ném lựu đạn thật tôi ném xa gần 45m, thật không ngờ, tôi được nhận giấy báo công của đơn vị gửi về gia đình, cho đến nay tôi còn giữ được cái giấy báo công này.


Một tuần sau đợt sát hạch diễn tập, chúng tôi được báo đi khám sức khỏe để tuyển chọn vào binh chủng đặc công. Nghe được vào đặc công, anh em thích lắm. Từ lâu chúng tôi đã ao ước được làm lính đặc công, được học võ thuật, đây là binh chủng đặc biệt tinh nhuệ của quân đội ta. Cầu được, ước thấy khoảng 1/3 chúng tôi trúng tuyển, toàn anh em tuy nhỏ con, nhưng khỏe mạnh, nhanh nhẹn.


Chia tay lính bộ binh, chúng tôi về với bộ đội đặc công. Tôi được biên chế vào Đại đội 1, Tiểu đoàn 8. Anh Nghị làm Đại đội trưởng, anh Thị làm Tiểu đoàn trưởng. Anh Thị là người miền Nam. Trông vóc dáng các anh, ai cũng mạnh khỏe, nhanh nhẹn, quắc thước. Bộ đội đặc công, từ đại đội trưởng trở lên đều đeo súng ngắn K59 trông oai lắm.


Về tiêu chuẩn ăn uống từ 0,68 đồng ở bộ binh, sang đơn vị đặc công chúng tôi được ăn theo tiêu chuẩn 1,2 đồng rồi 1,6 đồng/ngày. Tiêu chuẩn ăn của bộ đội đặc công gấp hơn hai lần ở bộ binh, nhưng học tập, huấn luyện thì vô cùng vất vả vì kỹ, chiến thuật đặc công rất khắc nghiệt.


Về binh chủng đặc công, đơn vị tôi vẫn ở trong nhà dân. Đến nay tôi vẫn còn nhớ, nơi tôi ở là nhà bà Khuyến, ở thôn Lan Mầu, xã Trung Hậu, huyện Lục Nam, tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang). Tổ ba người của tôi có anh An là tổ trưởng nhà ở phố Sơn Tây, Kim Mã, Hà Nội, cũng sinh năm 1949 như tôi, anh em nhanh chóng thân quen, lại là đồng hương Hà Nội nên dễ hòa nhập về tính cách, cũng như sinh hoạt.


Để quen với việc mang vác vượt Trường Sơn nay mai, cứ đến bữa ăn là chúng tôi phải mang một gùi gạch nặng 20kg từ nhà ở đến nhà ăn, ăn xong lại gùi về nhà. Để rèn luyện khả năng mang vác nặng, hành quân đường dài, sẵn sàng hành quân vào chiến trường, cũng như các đơn vị khác đang huấn luyện ở hậu phương miền Bắc lúc bấy giờ, đơn vị tôi thường luyện tập hành quân trên các địa hình phức tạp, trong mọi hoàn cảnh thời tiết. Địa hình càng phức tạp, thời tiết càng khắc nghiệt thì càng thuận lợi cho công tác huấn luyện bộ đội sát với thực tế chiến đấu sau này. Đơn vị thường tổ chức hành quân vượt qua dãy núi Yên Tử, một dãy núi rất cao, mang vác nặng, từ suối Chũ (Bắc Giang) sang Đông Triều (Quang Ninh).


Những hôm trời mưa to sấm chớp là y như rằng báo động hành quân. Tập hành quân lại thường vào ban đêm, trong đêm tối, những viên gạch trong ba lô cọ vào lưng đau rát, anh em nói "Mình cấp bậc một sao tám gạch, qua một đêm hành quân gân sáng về đến nhà thì cấp bậc bị hạ xuống chỉ còn một sao năm gạch thôi", ấy là nói đến hành động của những chàng lính trẻ không chấp hành nghiêm quy định huấn luyện, do mệt quá, đã vứt bớt gạch đi cho nhẹ trong quá trình hành quân luyện tập. Những đợt hành quân như thế, ai nấy mệt nhoài nên bạ đâu ngồi đấy, vì thế bộ đội mới có câu là "má văn công, mông bộ đội". Sau này, cán bộ phát hiện ra sự láu cá của mấy chàng chiến sỹ, nhất là chiến sỹ xuất thân từ học sinh, sinh viên và thành thị, đã cho đóng những khối đất sét nặng đúng bằng tiêu chuẩn trọng lượng mang vác để hành quân huấn luyện, làm cho các chàng lính này hết đường tự xin "giáng cấp" trong các buổi hành quân!


Với bộ đội đặc công, có nhiều khoa mục huấn luyện rất đặc thù, như khoa mục tiềm nhập đi khom, khắc phục hầm chông, rào thép gai các loại, leo tường, ống máng, cột thu lôi. Khó nhất là leo ống máng, nó tròn khó bám, rớt xuống đất chấn thương là cái chắc, thậm chí có thể tử vong. Chúng tôi phải đi trong bùn nước, bò trên sỏi không được gây ra tiếng động, làm quen và vô hiệu hóa các loại mìn gài nổ, rồi ngụy trang, hóa trang, khắc phục tránh đèn pha để tiếp cận địch...


Khoa mục võ thuật sử dụng các loại đao, súng... những hôm đầu tập tối về bắp thịt đau ê ẩm, sau rồi cũng quen dần. Có lần Tiểu đoàn trưởng - anh Thị - xuống kiểm tra, tôi được chỉ định biểu diễn võ thuật đánh đối kháng. Sau khi xem chúng tôi trình diễn, Tiểu đoàn trưởng khen và nhận xét về miếng đánh cần kín hơn nữa.


Rồi đơn vị tôi được học chiến lệ trận tập kích cứ điểm làng Vây của Quân giải phóng, học các chiến thuật đặc công như cách đánh luồn sâu, đánh nở hoa trong lòng địch (tức là đánh từ sở chỉ huy trung tâm của căn cứ địch đánh ra). Và nhiều khoa mục khác nữa chúng tôi cũng được huấn luyện rất kỹ càng.

Logged

thongdiepthoigian

Thành viên
*
Bài viết: 438


Ký ức người lính đặc công« Trả lời #3 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2025, 07:30:15 pm »
Nhưng yếu tố bí mật, bất ngờ của cách đánh đặc công là quan trọng nhất, vì lực lượng đặc công thường đánh vào ban đêm, lực lượng sử dụng ít vũ khí, chủ yếu là súng tiểu liên AK, lựu đạn thủ pháo, B40, B41 nhưng hiệu suất chiến đấu cao.

Ngoài kỹ thuật đánh cứ điểm, chúng tôi được về sân bay Gia Lâm học đánh sân bay. Buổi tối tập cắt hàng rào và khắc phục chướng ngại vật - vượt qua các trạm canh gác để tiếp cận máy bay.

Chúng tôi phải tập đến thành thục cách treo thủ pháo vào cánh máy bay, vào lỗ mũi xả khói của máy bay trực thăng, cứ cách một chiếc, gài một thủ pháo. Khi thủ pháo cháy nổ thì chiếc máy bay không gài thủ pháo cũng bốc cháy theo vì chúng đỗ gần nhau.

Chúng tôi còn được huấn luyện, khi hết thủ pháo sẽ dùng súng AK bắn phá hủy những máy bay còn lại, còn hỏa lực B40, B41 sẽ đánh vào đài chỉ huy không lưu, sở chỉ huy sân bay. Ban ngày, trời miền Bắc tháng 6 nóng như đổ lửa, đường băng sân bay nóng ran, chúng tôi đầu mũ vải, chân đất đi trên đường băng bê tông bỏng cháy da chân, nhưng phải khổ luyện đúng như câu nói "Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu".


Cán bộ đơn vị xác định tư tưởng cho chúng tôi là: "Đối tượng tác chiến của đặc công là quân Mỹ, quân ngụy, quân chư hầu, là các căn cứ, sân bay được xây dựng phòng ngự kiên cố nên không thể lơ là trong luyện tập được".

Buổi chiều ngồi trên đám cỏ cạnh đường băng, anh nuôi đem cơm ra mà chúng tôi mệt quá không nuốt được, chủ yếu chỉ uống nước canh cho đỡ khát, đỡ đói.

Sau giai đoạn huấn luyện đánh sân bay, chúng tôi được đưa vào nội thành Hà Nội tập đánh thành phố. Khu vực luyện tập là: Nhà Hát Lớn, đường Trần Hưng Đạo, nhà của Tổng Công đoàn đối diện vườn hoa Con Cóc, Bờ Hồ. Chiến thuật chủ yếu là lợi dụng địa hình đánh chiếm các dãy phố nhà cao tầng, ném lựu đạn cầu vồng, bí mật leo lên tầng cao, từ trên đánh xuống.


Tháng 8 năm 1969, cơ bản kết thúc khóa huấn luyện. Chúng tôi đi thực tập đánh cứ điểm, sân bay giả định, bắn đạn thật AK bài bắn găm, B40, B41, súng bắn AT, phóng lựu. Tôi được bắn thử B41 vì quá trình học tôi học sâu về cách sử dụng loại súng này, sau này vào chiến trường, tôi vẫn được giao sử dụng B41 khi đánh cứ điểm chi khu quân sự Phú Tân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.


Trước khi bắn, anh Minh, y tá người Hải Phòng, lấy hai cục bông bảo tôi nhét vào hai tai, bởi loại súng này tiếng nổ đầu nòng có âm lượng rất lớn, có thể làm ảnh hưởng đến màng nhĩ tại.

Hôm đó tôi ngắm bắn bằng kính quang học. Trời không có gió nên tôi ngắm và bắn thẳng vào mục tiêu lô cốt xa 200 mét. Tôi nín thở bóp cò! Tiếng đùng đoàng quả đạn xé gió lao thẳng vào lô cốt, một vùng lửa da cam bốc lên. Trúng rồi! Mọi người reo lên sau lưng tôi. Tôi để súng sang bên cạnh, móc hai cuộn bông tai ra toét miệng cười! Tiếng nổ đâu có to ghê gớm như mọi người tưởng tượng ban đầu. Sau này vào thực tế chiến đấu, tôi bắn bốn, năm quả liên tiếp có thấy chảy máu tai như nhiều người vẫn kể đâu.


Cùng vào bắn một đợt với tôi, có cậu Bằng cùng tiểu đội, được bắn thử súng phóng lựu. Nó lấy hướng, vặn thước đo độ, lắp quả lựu đạn có chuôi vào đầu khẩu AK, lấy cân bằng bọt nước, rồi bóp cò. Đạn mã tử phóng quả lựu đạn lên cao, cán đuôi lúc lắc lên hết độ cao, quả lựu đạn chúc xuống nổ đoàng, đụn khói bốc lên gần vòng tròn đánh dấu, như vậy cũng đạt yêu cầu. Nhưng cùng lúc với tiếng nổ của súng, nó cũng bật ngửa về phía sau, do tay trái giữ súng không chắc nên bị đầu ruồi khẩu súng đập trúng trán, máu tuôn chảy đầy mặt, thế là y tá Minh có việc để băng bó thương binh! Trông nó nhăn nhó mà tức cười quá, không nhịn được, nó vung tay chửi tôi. Sau này liên tưởng đến việc bắn cối 60 ly của biệt động Sài Gòn vào dinh Độc Lập, do không có bàn đế, lấy tay giữ nòng súng nên đã bị đập gẫy mấy cái răng cửa, phải ôm mồm đầy máu khi rút lui.


Diễn tập xong Đại đội 1 của tôi và một đại đội nữa được lệnh chuẩn bị lên đường chiến đấu. Lính chúng tôi chỉ biết cấp trên bảo gì thì chấp hành đấy, chứ còn đi chiến trường nào, vào tỉnh nào đâu có biết. Mấy cậu tham mưu con thì cứ đoán già, đoán non sẽ đi mặt trận này, chiến trường kia thế thôi.


Vào những ngày cuối tháng 8 năm 1969, chúng tôi nhận quần áo bà ba, mũ tai bèo, tăng, võng bạt vải Tô Châu - Trung Quốc, thuốc men, mỗi người một khẩu AK báng gấp hai băng đạn, hai quả lựu đạn, dao găm Liên Xô, Trung Quốc, ai cũng thích dao găm Trung Quốc hơn bởi chuôi sừng đen, dao nhọn hai lưỡi đẹp lắm, tôi cũng chọn con dao này. Sau này vào đến Trường Sơn, mới thấy không phù hợp, nhất là khi chặt cây, mắc võng, nó chi hợp cho chiến đấu nhưng không đa năng như loại dao năm tác dụng của Liên Xô, cắt được cả dây thép gai. Thêm một xẻng ngắn, một cuốc chim không cán buộc dưới đáy ba lô con cóc, nó nặng đến hai kilôgam. Đi chiến đấu đợt này có anh Năm người Hưng Yên làm Đại đội trưởng, anh Lê người Thanh Hóa là Chính trị viên, các anh đều đã gần 30 tuổi, anh Năm trước là lính cao xạ chuyển sang.


Trước khi lên đường chiến đấu, anh Chu Văn Thịnh là anh rể lấy chị Toán, chị hai của tôi (anh cũng là thầy giáo dạy tôi hồi tôi học cấp II) lên chơi, có chụp được một tấm ảnh lưu niệm tại phố Thắng, Hiệp Hòa.

Sáng 30 tháng 08 năm 1969, chúng tôi chia tay với bà con nhân dân thôn Lan Mau, xã Trung Hậu. Các mẹ, các chị, các em đều rơi nước mắt, chúc chúng tôi lên đường chiến đấu may mắn, bình an. "Vâng! Chúng con sẽ chiến thắng trở về", nhưng trong lòng ai cũng nghĩ: "Thôi từ biệt bà con, gia đình, từ biệt miền Bắc thân yêu, ngày trở lại khó mà hẹn trước được" và sự thật là như vậy.

Logged

thongdiepthoigian

Thành viên
*
Bài viết: 438


Ký ức người lính đặc công« Trả lời #4 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2025, 07:32:56 pm »
2. Lên đường vào chiến trường B

Sáng ngày mồng 1 tháng 9 năm 1969, một ngày đáng ghi nhớ trong cuộc đời quân ngũ của tôi.

Tiểu đoàn làm lễ xuất quân cho hai đại đội đặc công đi chiến đấu, đồng chí Thị - Tiểu đoàn trưởng, trực tiếp giao nhiệm vụ, có phái viên của Bộ Tư lệnh Đặc công về dự.

Hai đại đội ăn mặc như chiến sỹ Quân Giải phóng miền Nam, có cờ giải phóng nửa đỏ, nửa xanh. Trong lễ Chào cờ hát Quốc ca, từng loạt súng AK vang rền làm cho buổi xuất quân thêm long trọng, hùng tráng, đoàn quân mười tám, đôi mươi đang sung sức tiến ra chiến trường.


Chúng tôi hành quân bộ đến thị trấn Dĩnh Kế, Bắc Giang vào nghỉ nhờ nhà dân. Đây cũng là quê hương quan họ. Tôi rủ mấy anh em đi chơi quanh xóm, nhìn mấy em gái nhỏ 15, 16 tuổi, mấy cậu lính trẻ chúng tôi rỉ tai nhau "Loại này để giấm chín đã rồi mới dùng được!", rồi chúng tôi cười giòn tan, các em nhìn mấy chú bộ đội vui, cũng cười theo, tôi bảo các em đồng ý rồi đấy. Cái cười thật hồn nhiên trong sáng, nó chỉ có ở nơi đây, ở hậu phương còn đang bình yên cách xa chiến trường khói lửa.


Sáng hôm sau, mồng 2 tháng 9, là ngày Quốc khánh của đất nước, đơn vị chúng tôi tiếp tục hành quân, nhưng được di chuyển bằng tàu hỏa, từ ga Kế về ga xe lửa Gia Lâm. Hai giờ chiều, chúng tôi đến nơi, chờ xe của Bộ Tư lệnh Đặc công đón. Mọi người tỏa ra các quán nước ven đường uống nước chè xanh, hút thuốc. Ai cũng nghĩ, rồi mai đây vào chiến trường nước chè xanh làm gì có mà uống nữa. Tôi mua mấy bao thuốc lá hiệu Trường Sơn, Trà Khúc (loại thuốc lá rẻ tiền phổ biến lúc bấy giờ), cho vào ba lô con cóc.


Trời bỗng nổi gió giật đùng đùng, mây đen che kín cả bầu trời Hà Nội, mưa ầm ầm tuôn nước xuống xối xả, nó như báo hiệu một sự kiện bất thường! Khi Bác Hồ - Vị Cha già kính yêu của dân tộc mất, nhưng lúc đó chúng tôi chưa ai được biết.

Chúng tôi lên xe, đi vào thành phố, đường Trần Hưng Đạo nước ngập đến 1/3 bánh xe ô tô. Đến ga Hàng Cỏ trời hết mưa, nhân dân đứng hai bên đường biết chúng tôi đi chiến đấu, đều vẫy tay tiễn đưa, thật cảm động. Rất nhiều lá thư không dán tem gửi về cho gia đình bay như bươm bướm xuống đường, trong khi xe vẫn chuyển bánh, nhiều người đi đường đổ xô ra nhặt thư. Chúng tôi nghĩ, những lá thư của anh em gửi về cho gia đình, người yêu, bạn bè sẽ được dán tem, đưa ra hòm thư và được chuyển giúp về đúng những nơi chúng tôi mong muốn đến. Anh em tôi ai cũng hy vọng như vậy! Và sự thật, sau này, nhiều anh em trong đơn vị tôi đã nói lại với nhau những lá thư gửi đi bất đắc dĩ ấy đã đến được tay người nhận. Trong chiến tranh, tình người quá đẹp. Hiếm có dân tộc nào mà tình quân dân lại thắm thiết như dân tộc ta. Quả đúng như ai đó đã nhận xét, tình quân dân như cá với nước, nhân dân là người mẹ che chở, bao dung cho những đứa con của mình xông pha nơi chiến trường khói lửa.


Đoàn xe đưa chúng tôi đến ga Văn Điển. Anh Hạt, người Thanh Hóa, là Trung đội trưởng của tôi, có ông chú làm ở Nhà máy Pin Văn Điển, khi biết tin đã đứng đợi chúng tôi ở đó. Sau khi chào hỏi nhau, chúng tôi cho chú biết sáng mai anh em sẽ lên tàu vào Nam chiến đấu. Chú bảo sáng mai chú sẽ ra ga tiễn chúng tôi đi.


Đơn vị tôi nghỉ đêm ở làng Ngọc Hồi, thuộc huyện Thanh Trì và đêm hôm đó, chúng tôi được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bản tin thông báo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thông tin về tình hình sức khỏe của Bác Hồ, Bác đang ốm rất nặng! Một không khí buồn bao trùm lên tất cả chúng tôi. Bác là vị lãnh tụ thiên tài, là niềm tin của cả dân tộc. Trong tiềm thức chúng tôi lúc đó, cứ nghĩ Bác không bao giờ mất, nhưng chúng tôi cũng linh cảm một tin xấu về Bác có thể sẽ đến.


Quả đúng như vậy, ngày hôm sau, mồng 3 tháng 9, đơn vị đã thông báo chính thức tin Bác Hồ đã từ trần tại thủ đô Hà Nội!

Chúng tôi ai nấy bàng hoàng, không thể tin được, nước mắt tiếc thương trào ra!

Chúng tôi đang trên đường đi chiến đấu, nhận được tin này ai mà không buồn bã. Bác là chỗ dựa tinh thần cho chúng tôi, là niềm tin tưởng để chúng tôi vững tay súng trên trận tuyến tiêu diệt quân thù.

Bữa tối hôm đó, mọi người ăn uống uể oải. Dù trong chúng tôi có đứa thủ được ít rượu cuốc lủi, nhưng chẳng ai bảo bỏ ra uống. Mọi người thì thầm trao đổi rồi lên giường đi ngủ sớm.

"Không có gì quý hơn độc lập tự do", lời hiệu triệu của Bác như khẳng định một chân lý bất di, bất dịch với dân tộc ta. Vậy mà, giờ đây Bác đã không còn nữa. Chúng tôi để tang Bác trên đường ra mặt trận. Lòng thầm hứa sẽ làm tất cả để Tổ quốc ta được độc lập, tự do.


Sáng hôm sau, chú anh Hạt ra ga Văn Điển gặp và tiễn đưa chúng tôi lên tàu, cuộc chia tay thật lưu luyến, diễn ra cũng nhanh chóng theo nhịp thời chiến. Không ngờ, đây là lần chia tay cuối cùng của anh Hạt với người chú ruột của mình. Trong chiến đấu anh đã hy sinh khi đánh sân bay địch.


Hai đại đội lên tàu, lên các toa dành riêng cho bộ đội. Tàu chuyển bánh đi về phía Nam. Đến ga thị xã Thanh Hóa, thấy mấy chị gánh nồi bằng đất đựng nước chè xanh rao bán, tôi nói đùa: "ở Hà Nội cái này chỉ để đựng nước tiểu! Anh Hạt, tức tôi lắm vì câu nói đùa rất láo lại đụng chạm đến quê hương anh. Ngồi trên tàu, chúng tôi có những đề tài tranh luận muôn thuở bất phân thắng bại, như chuyện tên gọi con tôm, con tép...


Tàu khi đó chạy chậm lắm, chạy suốt đêm đến tận sáng mới đến ga Vinh. Đến đây cũng là hết tuyến đường sắt đi về phía Nam. Đoạn từ Vinh vào, do bị máy bay Mỹ đánh phá, hư hỏng toàn bộ. Thành phố Vinh điêu tàn, loang lổ hố bom, lác đác còn mấy cái nhà cao tầng chi chít vết bom đạn như thành phố Stalingrad trong chiến tranh thế giới thứ hai mà tôi có dịp được thấy khi xem phim trước đó.


Mấy chiếc ca nô đã đợi sẵn chúng tôi ở bên bờ sông Lam, dòng sông thơ mộng đọng trong câu hát dân ca xứ Nghệ. Sớm thu, ngồi trên sông Lam ngắm cảnh mênh mông sông nước, xa xa phía Tây là dãy núi Trường Sơn hùng vĩ trải dài từ Bắc vào Nam thấy đất nước ta đẹp quá, nên thơ quá, nhưng chúng tôi chẳng được thả hồn vào những phút giây ngắm cảnh đẹp non sông mà vẫn luôn phải đề phòng với máy bay Mỹ có thể ập đến bắn phá bất cứ lúc nào.


Qua sông Lam, chúng tôi hành quân tới sông Gianh. Buổi tối sương mù giăng kín mặt sông, dòng sông lịch sử với bao đau thương tang tóc của cuộc chiến tranh hai phe Trịnh - Nguyễn, chia đất nước ta thành hai Đàng: Đàng trong và Đàng ngoài thời phong kiến trước đây, với bao máu xương và nước mắt của nhân dân hai Đàng. Chúng tôi mò mẫm theo giao liên về làng Cự Nam, một làng anh hùng nổi tiếng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, một địa danh được kể đến trong bài hát Quảng Bình quê ta ơi! của nhạc sỹ Hoàng Vân mà bộ đội ta rất thích thời bấy giờ. Bài hát này thường được hát trong các buổi sinh hoạt tối ở các đơn vị.


Cũng trên con sông Gianh này, hình ảnh mẹ Suốt anh hùng ngày đêm chở bộ đội qua sông đã in đậm vào trí nhớ chúng tôi, lớp thanh niên khi đó.

Nhà dân ở đây đơn sơ lắm, làm chủ yếu bằng tre, nứa, lá và thấp tè.

Ngày hôm sau chúng tôi được nghỉ xả hơi! Tôi tranh thủ đi cắt tóc, tắm giặt để hôm sau tiếp tục hành quân vào làng Ho, vẫn trên đất Quảng Bình.

Chúng tôi tiếp tục được hành quân bằng ô tô. Có lẽ vì bộ đội đặc công nên được ưu tiên hành quân bằng cơ giới hơi nhiều. Tôi biết, nhiều đơn vị bộ binh đã phải hành quân bộ từ phía Nam Thanh Hóa rồi. Đoàn xe chuyên chở chúng tôi toàn là bộ đội nữ lái xe, đường xấu, mỗi lần qua ổ gà, người ai nấy tung lên cao, giáng bịch xuống sàn xe đau điếng lên tận óc. Chị em lái xe ở tuyến lửa này chịu bao mất mát hy sinh, cùng với chị em thanh niên xung phong viết lên bản hùng ca chiến thắng của dân tộc ta. Chúng tôi thấy cảm phục những tay lái nữ này thật sự. Họ điều khiển xe một cách thành thục qua các đoạn đường dốc, quanh co, ngoằn ngoèo, uốn khúc, nhiều lúc xe băng qua ngầm nước ngập đến gần sàn xe. Họ là tấm gương để chúng tôi học tập, noi theo.


Khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, xe chở chúng tôi đi vào một bãi đất trống khá bằng phẳng thuộc làng Ho, Quảng Bình. Làng Ho đã trở thành một cái tên rất quen thuộc đối với các đơn vị đi B thời chống Mỹ.

Một cơn mưa rừng bỗng ập tới, xối xả, như trút nước ầm ầm, gió rừng gào thét, cây rừng nghiêng ngả, những tổ kiến to bằng cái mũ bị gió cuốn thỉnh thoảng rơi bịch xuống kèm theo tiếng rầm, ai nấy thất kinh. Những tháng huấn luyện chiến đấu, chúng tôi cũng đã được trải qua những tình huống thời tiết mưa nắng khắc nghiệt rồi, nhưng chưa thấy trận mưa nào lại đến nhanh và giữ dội như vậy. Tôi thầm nghĩ, đây có lẽ là trận trời phủ đầu cho đám lính trẻ chúng tôi chuẩn bị bước vào hành quân trên dãy Trường Sơn đây.


Mặc mưa to gió lớn, cả đơn vị tôi đội mưa khẩn trương mắc tăng võng để chuẩn bị chỗ ngủ qua đêm, và công việc ưu tiên hơn là che chỗ nấu ăn cho bộ phận anh nuôi tác nghiệp để có cơm cho bộ đội. Khi hành quân, đơn vị tôi tổ chức bếp ăn theo trung đội.

Cũng may, khu vực trú quân của đơn vị tôi có loại cây có dầu, nên mặc dù ướt, nhóm lửa vẫn cháy. Tuy vậy, cũng vô cùng khó khăn mới nhóm được bếp để nấu cơm. Mỗi đứa phải cắt 20 cm dây cao su là quai dép dự phòng để nhóm lửa, tiếc đứt ruột (các đơn vị hành quân vào Nam thời chống Mỹ vẫn được cấp một cuộn dây cao xu dự phòng để thay quai dép khi bị đứt).


Thế rồi nồi cơm cũng chín, tất nhiên là còn rất sượng, bụng đói chúng tôi vẫn ăn ngon lành, ăn xong rửa vội bát đũa bên con suối nhỏ rồi lên võng đi ngủ.

Sáng hôm sau thức dậy, tôi thấy võng be bét máu. Trong đêm tối những con vắt đã ngửi thấy hơi người, chúng chui vào các bộ phận cơ thể tha hồ hút máu. Tuy nhiên, vì đang tuổi ăn tuổi ngủ, lại hành quân cả ngày nên tụi tôi mệt, lăn ra ngủ, vắt cắn no cũng chả biết gì. Những con vắt no máu bị chúng tôi đè bẹp trên võng máu loang ra đỏ thẫm trên võng!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn