Ký Ức người lính đặc công quê hương và tuổi thơ
"Xuất quân là thắng vinh quang"... là lời bài hát ngợi ca Đại đội đặc công 202, Tỉnh đội Phú Yên trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; đơn vị đã được Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên dương là Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng, vào tháng 9 năm 1971 và hai đồng chí đại đội trưởng là Lê Trung Kiên và Lương Tấn Thịnh cũng đã được tuyên dương danh hiệu cao quý này vì những thành tích chiến đấu đặc biệt xuất s
Tôi sinh ra và lớn lên ở Thượng Cát, một xã có lịch sử lâu đời của huyện Từ Liêm (nay là phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm), Hà Nội.
Với bao thế hệ, người dân Thượng Cát đã xây dựng nên một làng quê đông đúc bên dòng sông Hồng huyền thoại, với những đình, chùa cổ kính. Hồi trẻ con, những khi nghỉ hè và ngày nghỉ, chúng tôi vẫn thường ra sân đình hay khuôn viên nhà chùa để chơi với nhau.
Làng tôi, cho tới tận những năm đầu thế kỷ 21, vốn là làng thuần nông. Đất bãi ven sông đã trở thành những cánh đồng phì nhiêu trồng lúa và hoa màu, rau quả do sức lao động của người dân cải tạo từ đời này qua đời khác.
Thượng Cát là một miền quê giàu truyền thống yêu nước, kiên cường trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Từ khởi nghĩa Hai Bà Trưng chống quân Hán xâm lược những năm đầu công nguyên, đến các cuộc kháng chiến chống quân Lương, Nguyên, Minh, Thanh của thời kỳ phong kiến và thực dân Pháp, đế quốc Mỹ thời kỳ lịch sử hiện đại.
Tôi sinh trưởng trong một gia đình có ba chị em. Tôi là con trai út, trên tôi là hai chị. Tôi được bố, mẹ cho ăn học tử tế. Vào những năm sáu mươi thế kỷ trước, cả xã chỉ có một trường cấp I và hai, ba xã mới có một trường cấp II. Học sinh không đông lắm, mỗi khối học cũng chỉ có hai, ba lớp. Sĩ số mỗi lớp khoảng 40 - 45 học sinh.
Ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc, hòng ngăn chặn cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc ta.
Năm 1966, chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đã tiến hành một bước leo thang rất nguy hiểm, chúng đã đánh phá vào ngoại thành Hà Nội. Tháng 8 năm 1966, máy bay Mỹ đã tấn công trận địa cao xạ ở cánh đồng Nhật Tân, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm, chỉ cách quê tôi có vài cây số. Chính nơi đây ngày nay là đầu cầu Nhật Tân hùng vĩ bắc qua sông Hồng, nối với đường mang tên vị tướng huyền thoại - Võ Nguyên Giáp - tạo thành một con đường đẹp vào loại nhất nhì thủ đô, đi lên sân bay quốc tế Nội Bài. Bị quân ta đánh trả quyết liệt, chúng đã ném bom bừa bãi vào khu dân cư vùng xung quanh, làm hàng chục dân thường thiệt mạng. Ngày đó đã trở thành ngày giỗ chung của nhiều gia đình hai xã Nhật Tân và Phú Thượng.
Sau khi tốt nghiệp lớp 7 (nay là lớp 9) tại Trường cấp II xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm, Hà Nội, tôi cũng như nhiều bạn cùng lớp đăng ký đi học chuyên nghiệp (nay là bậc trung học kỹ thuật - nghề), không học tiếp lên cấp III. Hồi đó vào các loại trường này không phải thi. Tôi đăng ký xin học Trường trung cấp Bưu điện - Truyền thanh, bởi tôi thích nghề này lắm. Nhưng cuộc đời không chiều theo ý muốn cá nhân, tôi lại được Trường trung cấp Hóa chất Lâm Thao, Phú Thọ gọi nhập học. Mặc dù không thích nhưng tôi cũng nhập trường đi học.
Trường sơ tán tại xã Văn Lang, huyện Tam Nông, Phú Thọ. Thời gian này, máy bay Mỹ mở rộng đánh phá trên toàn miền Bắc. Trường tôi học máy bay Mỹ chỉ bay qua, chúng đến đánh bom Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao và Khu công nghiệp Việt Trì. Để bảo đảm an toàn, chúng tôi phải đào hầm để cả lớp học chìm vào lòng đất, đề phòng máy bay Mỹ ném bom.
Thời kỳ đó, học sinh đi học đều được Nhà nước chu cấp học bổng, với nhiều mức khác nhau. Nhưng học bổng rất ít, mỗi học sinh được lĩnh học bổng từ 10 đến 20 đồng. Số tiền này chỉ tạm đủ trang trải cho việc mua rau, mua gạo ăn uống hàng ngày. Sức trẻ ăn nhiều và chẳng mấy khi được ăn thịt, cá, nên lượng gạo tiêu thụ lại càng cao; bây giờ thịt cá trong bữa ăn nhiều, lượng tinh bột giảm đi đáng kể trong khẩu phần ăn. Thời chúng tôi đi học, cơm học sinh chỉ có rau, chỉ khi nào liên hoan mới được ăn thịt, cá. Nhưng gạo lại chỉ được mua theo tiêu chuẩn ít ỏi, học sinh được mua 15kg lương thực mỗi tháng, không phải toàn gạo mà kèm bột mì hoặc ngô, sắn nên đói lắm. Bữa ăn hằng ngày chỉ có rau luộc với nước giếng, ở nơi trường tôi theo học là vùng nước chứa nhiều oxit, nên rau luộc đen xì! Thời ấy buộc phải ăn, chứ còn bây giờ không ai dám thò đũa gắp ăn loại rau luộc đó! Ngoài cơm, chúng tôi được ăn thêm một miếng mì luộc hôi mù mà bọn học sinh chúng tôi lúc đó gọi là "nắp hầm", ném chó không chết!
Tôi làm lớp phó phụ trách học tập, học giỏi nên được học bổng toàn phần là 20 đồng/tháng, tôi thường nhường lại một phần cho các bạn nhà nghèo chỉ được học bổng 10 đồng/tháng, nhà nghèo. Những ngày nghỉ tôi thích đến thăm các bạn đồng hương Hà Nội cùng học trong trường, hoặc đi đào sắn giúp dân. Tôi nhớ nhất món sắn khô giã nhỏ đồ xôi, buổi tối được gia đình bà Thược, anh Đệ ở gần trường cho ăn thấy ngon lắm, nhưng ăn rồi hay bị nóng ruột.
Nơi chúng tôi ở nhân dân trồng nhiều chuối, sắn và cả dứa. Lúc đó hai hào có thể mua được năm quả chuối to, còn dứa hào một quả. Có lần vì đói cơm, tôi ăn liền một lúc 5 quả dứa, ăn xong nhổ nước bọt thấy có lẫn cả máu ở lưỡi tứa ra. Mấy cậu bạn bảo, muốn khỏi rát lưỡi thì chấm dứa với muối trước khi ăn.
Thỉnh thoảng, sau bữa cơm xong, chúng tôi lại rủ nhau ra chợ "cóc" gần cổng trường, mua hoa quả để ăn thêm cho đỡ đói, sức trẻ đang tuổi ăn, tuổi ngủ, có hôm phải ăn tới 5 quả chuối nữa mới đủ no bụng!
Mùa hè năm 1968, sau khi học hết năm thứ hai của chương trình trung cấp ba năm, chúng tôi được về nghỉ phép mười ngày. Lúc chưa hết phép, tôi có giấy nhà trường gọi lên để đi công nhân quốc phòng. Tôi đang ốm nên không lên kịp. Khi trở lại trường, trên đường lên đến Hưng Hóa (Phú Thọ), tôi gặp một số bạn cùng lớp đi công nhân quốc phòng.
Tôi về trường tiếp tục đi thực tập tại Nhà máy Hóa chất Việt Trì. Thực tập xong, có một đơn vị quân đội về khám sức khỏe tuyển đi học phi công, nhưng chúng tôi không ai đủ tiêu chuẩn, vì toàn những người "thấp bé nhẹ cân" như tôi.
Chiến tranh ngày càng khốc liệt, thanh niên được huy động ngày càng nhiều vào quân đội thì "thấp bé nhẹ cân" như tôi cũng "đắt hàng" với các binh chủng không cần tầm vóc to cao như lái máy bay. Những người bị "thiệt thòi" về ngoại hình như chúng tôi vẫn được các đơn vị bộ binh tuyển chọn. Trường tôi đến năm 1968 đã có hai đợt học sinh được lệnh gọi nhập ngũ vào quân đội.
Tình hình chiến sự ở hai miền ngày càng ác liệt, tin tức đánh nhau ở miền Nam và miền Bắc liên tiếp được đài báo cập nhật hàng ngày. Những người khỏe mạnh đủ tiêu chuẩn đều hăng hái viết đơn nhập ngũ và đã lần lượt lên đường. Chúng tôi học tập trong tình trạng sĩ số cứ giảm dần qua các đợt gọi nhập ngũ, ai cũng có tâm trạng bồn chồn, chờ đợi, nên không khí học tập cũng có phần giảm sút.
Thế rồi đợt ba gọi nhập ngũ của trường tôi cũng đã đến. Tôi có danh sách trong đợt tòng quân lần này. Lúc đó tôi người gày lắm, cân nặng chỉ có 43kg thôi, mọi người cho rằng ngữ tôi khó lòng trụ được trong quân đội. Còn tôi thì nghĩ để rồi xem, và tôi tin là mình có thể trụ vững được.
Vợ chồng thầy Ân, chủ nhiệm lớp tôi học, mời tôi ăn bữa cơm chia tay với thầy. Bữa cơm cùng gia đình thầy giáo tuy đơn sơ nhưng thật cảm động! Thầy giáo đã căn dặn tôi nhiều điều khi vào quân ngũ.
Tháng 9/1968, chúng tôi chia tay bạn bè cùng học để lên đường nhập ngũ trong sự lưu luyến thật khó tả giữa người đi và người ở. Các bạn gái gửi tặng chúng tôi những chiếc khăn mùi xoa, khăn rửa mặt, với những dòng chữ thêu như nhắn gửi chúng tôi lời ước hẹn. Với tôi chưa có mối tình với bạn gái nào nên lên đường cảm thấy thanh thản, nhưng trong lòng cũng thấy xao xuyến bùi ngùi.
Từ đây chúng tôi từ giã cuộc đời học sinh, với nhiều mơ mộng và hoài bão của tuổi trẻ, xếp bút nghiên lên đường dấn thân vào cuộc chiến đấu cùng với cả dân tộc ta đánh Mỹ, cứu nước. Khóa học của chúng tôi nếu không đi bộ đội, học xong 3 năm trung cấp, sẽ có nhiều bạn sang Liên Xô học tiếp, vì thời ấy môn hóa tổng hợp hữu cơ, sản xuất chất dẻo là ngành mới của Việt Nam.


