Ký ức người lính già đưa ta quay về mùa thu tháng Chín năm 1965
Trong ngôi nhà nhỏ bình dị rợp bóng cây ở vùng biển xã Quỳnh Lập, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, những tấm huân, huy chương và kỷ vật chiến trường nằm trang trọng trên tường vách như một bảo tàng thu nhỏ của đời người lính

Nơi ấy, người cựu chiến binh Vũ Đức Chất ở tuổi ngoài tám mươi vẫn giữ vẹn nguyên tác phong nhanh nhẹn, đôi mắt sáng bừng mỗi khi hồi tưởng lại chặng đường quân ngũ hiếm có: người lính đã đi trọn 24 năm binh nghiệp, trực tiếp cầm súng vào sinh ra tử qua cả bốn cuộc chiến tranh lịch sử của dân tộc.
Ký ức người lính già đưa ta quay về mùa thu tháng Chín năm 1965. Chàng trai miền biển Nghệ An tròn 22 tuổi, dẫu là con trai duy nhất trong gia đình nông dân, đã gác lại hạnh phúc riêng để viết đơn tình nguyện nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Được biên chế và rèn luyện tại Đại đội 2, Tiểu đoàn 43 thuộc Tỉnh đội Nghệ An, đến năm 1966, người chiến sĩ trẻ bắt đầu bước vào những vùng chiến địa đỏ lửa khắp Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk. Giữa đại ngàn Tây Nguyên bị rải thảm chất độc hóa học, những cơn sốt rét rừng thâm da run rẩy, những bữa ăn thiếu thốn triền miên chẳng thể làm nhụt đi ý chí quật cường của người lính trẻ. Sau khi được cử ra Bắc học bổ túc sĩ quan chỉ huy, ông quay lại tuyến lửa, tiếp tục dấn thân vào các trận đánh khốc liệt tại sân bay Ái Tử và 81 ngày đêm máu lửa bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mùa hè 1972 trong đội hình Đại đội 11, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 18, Sư đoàn 325 thuộc Quân đoàn 2.
Dấu ấn sâu đậm nhất trong cuộc đời cầm súng của Đại đội trưởng Vũ Đức Chất chính là mùa xuân lịch sử 1975. Đúng 5 giờ 30 phút sáng ngày 21 tháng 3 năm 1975, đơn vị của ông nhận lệnh xung phong đánh chiếm cao điểm 494 phía Nam thành phố Huế. Dưới làn đạn pháo dày đặc, mũi tiến công dũng mãnh của đơn vị đã chốt chặt, cắt đứt hoàn toàn Quốc lộ 1 huyết mạch, chặt đứt đường rút lui của đối phương vào Đà Nẵng và ngăn viện binh tràn ra. Đòn đánh hiểm hóc ấy làm rung chuyển toàn bộ tuyến phòng thủ Trị – Thiên, tạo tiền đề để đại quân mở toang cánh cửa giải phóng Huế và Đà Nẵng.
Không một ngày ngơi nghỉ, ông cùng Sư đoàn 325 cuốn vào dòng thác tiến công thần tốc hướng về Sài Gòn. Dọc đường thiên lý, dấu chân ông in hằn qua các trận đánh tại Cảng Nước Trong, bán đảo Sơn Trà, tổng kho Đà Nẵng, cảng Phan Thiết. Chiều 29 tháng 4 năm 1975, đơn vị đánh chiếm Trường Sĩ quan Thủ Đức và trưa ngày 30 tháng 4 lịch sử, họ tiến thẳng vào cảng Nhà Rồng. Dù mang trên mình vết thương chiến tranh, ông vẫn nghẹn ngào tự nhận mình may mắn hơn muôn vàn đồng đội đã ngã xuống, khi được chứng kiến trọn vẹn non sông nối liền một dải trong ngày đại thắng.
Kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, hành trình cống hiến vì nghĩa vụ quốc tế và độc lập dân tộc của ông Chất vẫn chưa dừng lại. Từ tháng 6 năm 1976 đến tháng 3 năm 1979, ông tiếp tục khoác ba lô sang chiến trường Lào và Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế cao cả. Vừa trở về chưa ráo mồ hôi, từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1979, ông lại được lệnh cơ động lên tuyến đầu Lạng Sơn, trực tiếp chỉ huy chiến đấu kiên cường bảo vệ vững chắc biên giới phía Bắc của Tổ quốc.
Năm 1989, sau gần một phần tư thế kỷ tôi luyện trong bom đạn, Đại úy Vũ Đức Chất nghỉ hưu trở về quê hương Quỳnh Lập. Rời chiến hào khói lửa về với đời thường, người cựu chiến binh lại tiếp tục xắn tay gánh vác việc làng việc xóm, giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong từng cương vị: Ủy viên Ban Thường vụ Hội Cựu chiến binh xã, Xóm trưởng mẫn cán, rồi Bí thư Chi bộ gương mẫu. Với Huân chương Lao động hạng Nhì, 4 Huân chương Chiến công, Huy chương Chiến sĩ giải phóng cùng Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng, cuộc đời của CCB Vũ Đức Chất chính là tấm gương sáng ngời, một pho sử sống sống động về lòng trung kiên, sự hy sinh thầm lặng và ý chí quật cường của thế hệ cha anh vì độc lập, tự do trọn vẹn của non sông.



