KÝ ỨC NGƯỜI LÍNH - LƯƠNG VĂN KIỆM
CHUYỆN ĐỜI LÍNH LƯƠNG VĂN KIỆMTôi tên là Lương Văn Kiệm, sinh năm 1955, quê ở thôn Chiềng 3, xã Võ Lao. Tôi sinh ra và lớn lên trong những năm tháng đất nước còn chìm trong chiến tranh. Quê tôi nghèo, quanh năm gắn với ruộng nương, bữa cơm nhiều khi chỉ có rau rừng với măng luộc, nhưng được cái tình làng nghĩa xóm thì đậm sâu. Từ nhỏ, tôi đã quen với cảnh người lớn trong làng tiễn con em mình lên đường nhập ngũ .Năm 1973, tôi tròn 18 tuổi. Khi ấy, trong làng nhiều thanh niên đã lên đường ra trận, có người viết thư về, có người hy sinh, tên được đọc lên trong những buổi họp thôn. Tôi suy nghĩ nhiều đêm liền. Mình là con trai, tuổi trẻ, sức dài vai rộng, trong khi đất nước còn chiến tranh, nếu không đi thì thấy áy náy với lương tâm. Thế là tôi tự nguyện viết đơn xin nhập ngũ, không ai ép buộc, cũng không đợi gọi. Ngày lên đường, mẹ tôi khóc, bố tôi chỉ lặng lẽ hút thuốc.Sau khi nhập ngũ, tôi được đưa đi huấn luyện ở Bắc Thái, tỉnh Thái Nguyên. Những ngày đầu trong quân ngũ thực sự không dễ dàng. Huấn luyện rất gắt gao, từ bắn súng, hành quân, đào công sự, đến rèn thể lực. Có những hôm hành quân cả chục cây số, ba lô nặng trĩu trên vai, mồ hôi ướt đẫm áo. Đêm về, nằm trên võng giữa rừng, muỗi vo ve, nhưng anh em vẫn động viên nhau, ai cũng tin rằng rồi sẽ đến ngày ra chiến trường, góp sức giải phóng miền Nam.Đến năm 1974, tôi được lệnh đi ra chiến trường. Chúng tôi hành quân theo đường Trường Sơn, con đường huyền thoại mà cũng đầy gian khổ. Đường rừng hiểm trở, dốc cao, suối sâu, bom đạn lúc nào cũng có thể trút xuống bất cứ lúc nào. Có những đoạn phải đi ban đêm, ban ngày ẩn nấp trong rừng để tránh máy bay địch. Sốt rét rừng quật ngã không ít anh em, nhưng hễ ai ngã xuống là người khác lại dìu đi, không ai bỏ ai lại phía sau.Tôi được biên chế vào Lữ đoàn 234, thuộc Quân đoàn 2, chiến đấu tại Tây Nguyên, qua các địa bàn Đắk Móc, Đắk Siêu, Đắk Tô, Tân Cảnh của tỉnh Kon Tum. Tây Nguyên mùa nắng thì khô khốc, mùa mưa thì bùn đất lầy lội, nhưng nơi đây lại là chiến trường vô cùng quan trọng. Chúng tôi vừa chiến đấu, vừa bám địa bàn, vừa bảo vệ tuyến hành lang chiến lược. Đến năm 1975, tình hình chiến trường thay đổi nhanh chóng. Đơn vị tôi nhận lệnh giải phóng Đức Lập, mở đường tiến về Buôn Ma Thuột. Đây là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Tôi lúc đó là một trong 42 đồng chí được giao trực tiếp cầm pháo cao xạ, đi phía sau bộ binh. Nhiệm vụ của chúng tôi không chỉ là chiến đấu, mà còn là làm mồi nhử, bắn lên để dụ máy bay địch phát hiện và thả bom về phía pháo binh, nhằm giảm áp lực cho bộ binh tiến công phía trước. Ngày chiến đấu ác liệt nhất, đơn vị tôi có 5 khẩu pháo cao xạ. Trên bầu trời là 2 chiếc máy bay ném bom của địch lượn vòng liên tục. Chúng phát hiện ra vị trí của chúng tôi và thả bom xuống như mưa. Đất rung, đá bay, khói lửa mù mịt. Chúng tôi vừa bắn, vừa di chuyển, vừa đào công sự che chắn. Có lúc tưởng như không trụ nổi nữa, nhưng nghĩ đến nhiệm vụ, nghĩ đến anh em bộ binh đang tiến lên phía trước, chúng tôi lại cắn răng bám trụ.Sau 5 ngày chiến đấu liên tục, cuối cùng chúng tôi giành được chiến thắng, giữ vững được cửa mở, tạo điều kiện cho bộ binh tiến công thuận lợi. Nhưng chiến thắng ấy đổi bằng máu: 4 đồng đội của tôi đã hy sinh, và 1 khẩu pháo bị phá hủy. Khi chôn cất anh em ngay bên bìa rừng, không có quan tài, chỉ có tăng võng quấn tạm, lòng tôi đau như cắt, nhưng không ai được phép gục ngã. Giải phóng xong, đơn vị tôi tiến vào Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, và được nghỉ lại một tuần. Tại đây, tôi được trao Bằng khen Chiến sĩ giải phóng – Diệt máy bay cấp 3. Nhận giấy khen mà lòng tôi vừa vui, vừa buồn. Vui vì hoàn thành nhiệm vụ, buồn vì những người xứng đáng nhận hơn tôi thì đã nằm lại chiến trường. Sau thời gian ngắn nghỉ ngơi, chúng tôi tiếp tục nhận lệnh tiến ra Nha Trang, rồi hành quân vào Sài Gòn. Từ ngày 17 tháng 3 năm 1975, đơn vị tôi liên tục tham gia các trận đánh, gần như không có ngày nghỉ. Đoàn pháo binh của chúng tôi được củng cố liên tục, bổ sung lực lượng để theo kịp các mũi tiến công thần tốc.Tính từ 17/3 đến hết 30/4/1975, đơn vị tôi hy sinh 16 đồng chí, trong đó có 4 đồng chí pháo binh và 12 đồng chí công binh. Mỗi lần nghe danh sách thương vong, tim tôi lại thắt lại. Nhưng rồi đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi nghe tin miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả đơn vị vỡ òa trong nước mắt. Nước mắt của niềm vui, của sự nhẹ nhõm, và của những mất mát không gì bù đắp được.Sau khi chiến tranh kết thúc, tôi được điều về Nha Trang, làm nhiệm vụ bảo quản pháo tại đơn vị. Công việc tuy không còn bom đạn, nhưng vẫn đòi hỏi kỷ luật và trách nhiệm cao. Đến tháng 10 năm 1977, tôi chính thức xuất ngũ, trở về quê hương Võ Lao, nơi tôi đã sinh ra và lớn lên.Tổng cộng, tôi tham gia kháng chiến 4 năm 3 tháng. Những gì tôi mang về không chỉ là ký ức, mà còn là những phần thưởng của Đảng và Nhà nước ghi nhận:- Huy chương Chiến sĩ vẻ vang- Danh hiệu Chiến sĩ diệt máy bay cấp 3- Bằng khen Chiến sĩ giải phóng độc lập- Bằng khen Chiến sĩ giải phóng Hồ Chí Minh - Chứng nhận Huy chương Kháng chiếnGiờ đây, khi đã trở về với quê nhà, với cuộc sống đời thường, mỗi khi nhớ lại những năm tháng chiến tranh, tôi chỉ thấy mình may mắn vì còn sống để kể lại, và tự hào vì đã góp một phần nhỏ bé cho ngày đất nước thống nhất. Những đồng đội đã hy sinh, tôi không bao giờ quên. Họ chính là một phần máu thịt của cuộc đời người lính như tôi.



