Ký ức người lính "Một thời Hoa lửa"
Ký ức người lính Một thời hoa lửa
Những năm đầu thập niên 1980, chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc là một cuộc chiến dai dẳng, khốc liệt. Nó tàn nhẫn đến lạnh người. Ở mặt trận Thanh Thủy-Vị Xuyên, cái chết không đến theo trận đánh lớn mà đến từng ngày, từng giờ, bằng những loạt pháo bắn cầm canh không ngơi nghỉ. Núi đá bị pháo khoét rỗng, đất đá vùi lấp hầm hào, cây rừng bật gốc. Người lính dành phần lớn thời gian trong hầm, hố chiến hào, quen với tiếng pháo rít hơn cả tiếng nói chuyện bình thường. Có những ngày, chỉ còn sống sau một đợt pháo kích đã là một phép màu, một may mắn hiếm hoi.
Các cao điểm 1509, 685, 772, hầm 300, hầm 400 trở thành những nơi mà mạng sống con người được tính bằng từng mét đất. Hai bên giằng co từng căn hầm, từng mỏm đá, pháo bắn đến mức đất đá nóng rực, khói bụi không kịp tan. Đường tiếp tế biến thành “đường chết”, nơi thương binh, tử sĩ nằm lại ngay bên lối đi, có người không kịp gọi tên đồng đội, không kịp gửi lại quê nhà một lời trăng trối. Có những chiến sĩ hy sinh mà đồng đội chỉ biết mặt, không biết tên, chỉ kịp bọc tăng nilon, đưa vào hang chờ ngày chuyển ra sau.
Trong hoàn cảnh ấy, những người lính trẻ bước vào chiến trường không có khái niệm sợ hãi dài lâu. Sợ thì vẫn sợ, nhưng không thể dừng lại. Đạn pháo nổ phía trước vẫn phải đi, thương binh còn nằm lại vẫn phải cáng về. Có những người đi hết một chuyến vận tải thì không còn trở lại. Có những người sống sót, mang theo ký ức chiến tranh đè nặng suốt phần đời còn lại. Những dòng viết sau đây không phải để kể công, cũng không phải để làm đau thêm ai, mà là lời kể của một người đã trực tiếp sống giữa làn đạn pháo ở Thanh Thủy-Vị Xuyên, về một giai đoạn mà sự hy sinh của người lính là điều diễn ra mỗi ngày.
Tôi là Triệu Văn Dũng, sinh năm 1962, quê ở thôn Nà Nghè, xã Hồng Quang, huyện Chiêm Hóa, Tỉnh Tuyên Quang (nay là xã Minh Quang, tỉnh Tuyên Quang). Những năm tháng chiến tranh, gia đình tôi sống thuần nông, làm ruộng là chính. Nhà đông anh em (12 người) nên cuộc sống rất chật vật, có năm thiếu ăn từ một đến ba tháng. Trong hoàn cảnh ấy, cũng như bao thanh niên cùng thời, khi Tổ quốc gọi, tôi lên đường nhập ngũ với suy nghĩ giản dị: “mình là trai làng, đến tuổi thì đi”
Tôi tham gia chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc trong thời gian 03 năm 10 tháng (02/1982 – 12/1985), công tác tại Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 881, Sư đoàn 314. Những gì tôi kể lại dưới đây là ký ức của cá nhân tôi về quãng thời gian ấy - những điều đã sống, đã chứng kiến và còn in đậm trong trí nhớ cho đến hôm nay.
Năm 1981, khi vừa học xong cấp 3, tôi trở về địa phương tham gia công tác tại hợp tác xã, đi đo đạc, đóng cọc diện tích đất ruộng để lập bản đồ 299. Đến tháng 2/1982, tôi nhận lệnh gọi nhập ngũ, cùng 11 thanh niên trong xã tham gia đợt nhập ngũ đầu năm 1982.
Sau 03 tháng huấn luyện tân binh, tại Việt Vinh - Bắc Quang, sau đó được điều đi mỗi người một nơi. Tôi được điều về đơn vị Đại đội 8, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 881, Sư đoàn 314. Đơn vị đào tạo huấn luyện lớp hạ sỹ quan. Năm 1983 sau khi huấn luyện xong lớp hạ sỹ quan. Tôi được giữ lại đơn vị tiếp nhận và huấn luyện tân binh. Đóng tại xã Tân Trịnh, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Tuyên. Nay là xã Tân Trịnh, tỉnh Tuyên Quang.
Tháng 1/1984 Tôi được phân nhiệm vụ về Đại đội 25, đơn vị vận tải của Trung đoàn lên tăng cường cho Sư đoàn 356 đang chiến đấu tại các cao điểm tại Thanh Thủy - Vị Xuyên đến tháng 12/1985 (đến khi ra quân). Trong những ngày tháng ấy, Đại đội chúng tôi phải sống và chiến đấu giữa làn “mưa bom, bão đạn” của quân Trung Quốc xâm lược. Đạn pháo Trung Quốc bắn cầm canh suốt ngày, suốt đêm để ngăn chặn quân tiếp viện của ta vào các chốt tiền tiêu. Hai bên đang đánh chiếm các điểm cao: 685, 772, hầm 300, hầm 400... Tranh giành nhau từng căn hầm, mỏm đá, pháo 2 bên bắn vào các cao điểm này suốt ngày đêm, bộ đội ta bị thương vong rất nhiều vì đạn pháo dày đặc của Trung quốc.
Đơn vị tôi đóng tại làng Ping Km15, dưới chân núi đá. Nhiệm vụ hàng ngày của chúng tôi là vận chuyển đạn dược và nhu yếu phẩm vào trận địa dưới chân điểm cao 1509. Quay về vào hang Làng Lò nằm dưới chân cao điểm 685 ( hang này là nơi tập kết của bộ đội đội ta bổ sung quân cho các cao điểm và cũng là nơi tập kết thương
binh tử sỹ...) để vận chuyển thương binh và tử sỹ ra tuyếnsau.Mỗi tiểu đội nhận nhiệm vụvận chuyển 02 người thương binh hoặc tử sỹ.
Đoạn đường mà đơn vị chúng tôi hàng đêm phải vượt qua chỉ dài khoảng 6 km. Từ Làng Ping Km15 đến trận địa pháo dưới chân điểm cao 1509 phải vượt qua đỉnh Cốc Nghè, ngã 3 Thanh Thủy (bộ đội ta gọi là “cửa tử”).
Nơi đây pháo binh của quân Trung Quốc bắn phá suốt ngày đêm để ngăn chặn quân tiếp viện của ta. Bộ đội ta đến đó phải ẩn nấp dưới hầm, hào để đợi hết đợt pháo kích thì nhanh chóng vượt qua “Cửa Tử”. Suốt chiến dịch Mùa khô năm 1984 công việc của Bộ đội vận tải chúng tôi cứ lặp đi lặp lại. Nhiều lần bị kháo bắn vào đội hình, hầm, nơi trú ẩn. Đơn vị phải di chuyển, vận động liên tục để tránh pháo khoan của địch.
Những ký ức thời chiến tranh Biên giới đối với tôi đến bây giờ vẫn không bao giờ phai nhạt mỗi khi nhắc đến Thanh Thủy. Mỗi lần vượt qua trọng điểm bị pháo bắn trúng đội hình phải ẩn nấp dưới hào, xác xe tăng, xác ô tô để tránh đạn. Nhiều lần chứng kiến đồng đội lần lượt hy sinh dưới làn pháo địch, do chưa quen địa hình. Những chiến sỹ hy sinh sau các trận đánh chiếm điểm cao, chưa rõ địa chỉ, quê quán ở đâu được quy tập ở hang để khâm liệm, chờ vận chuyển ra tuyến sau.. Mỗi lần khiêng thương binh vượt qua trọng điểm pháo, phải đảm bảo an toàn cho thương binh đến nơi tập kết. Mỗi lần đi như vậy chúng tôi lại rút ra được kinh nghiệm để vượt qua nguy hiểm dưới lần đạn pháo dày đặc của quân địch. Tránh được thương vong trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao.
Quá trình tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu từ tháng 1/1984 – 9/1985 bản thân tôi vinh dự nhận được Bằng khen của Bộ chỉ huy mặt trận tiền phương Hà Giang và cũng được vinh dự kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam. Tại mặt trận Thanh Thủy - Vị Xuyên.
Đã hơn 40 năm, những kỷ niệm, hình ảnh cùng đồng đội được sống và chiến đấu tại chiến trường Thanh Thủy - Vị Xuyên giải đoạn 1984 -1985 luôn ám ảnh trong tôi. Có những giấc mơ giật mình khi mỗi lần nhắc đến Thanh Thủy – Vị Xuyên. Khi xuất ngũ trở về địa phương, tôi luôn khắc sâu trong tâm khảm rằng mình là người may mắn khi được lành lặn trở về, sum họp bên gia đình và tiếp tục góp sức dựng xây quê hương. Trưởng thành từ môi trường quân ngũ, tôi càng thấu hiểu giá trị của hòa bình và trách nhiệm của người lính trong thời bình. Vì vậy, tôi tự nhủ phải sống có lý tưởng, có kỷ luật và có cống hiến; sống xứng đáng với những khát vọng cao đẹp của bản thân, và trên hết là xứng đáng với sự hy sinh anh dũng của những đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường - những người đã hiến dâng trọn tuổi xuân, máu xương và những ước mơ còn dang dở để Tổ quốc hôm nay được độc lập, yên bình.



