Ký ức người lính “Một thời hoa lửa”
Viết về Liệt sỹ Trương Tuấn Đạt - người con, người anh, người chiến sĩ đã sống một cuộc đời như ngọn lửa: cháy hết mình trong “một thời hoa lửa”, nở ra những mùa bình yên cho đất nước hôm nay.

Ký ức người lính “Một thời hoa lửa”
Trong ký ức của gia đình tôi, ông Trương Quốc Đạt – Tuấn Đạt (Bí danh Trương Quốc Đảm), sinh ngày 01 tháng 05 năm 1949 sinh ra tại thôn Vinh Lộc, xã Yên Nhân, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình không chỉ là một người con, người anh, mà còn là biểu tượng của một thời hoa lửa đầy gian khổ và hào hùng.
Ông sinh ra trong một gia đình nghèo đông con giữa những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa. Tám người con lần lượt chào đời, nhưng chiến tranh khốc liệt, đói rét và bệnh tật đã cướp đi nhiều sinh linh bé bỏng khi còn chưa kịp lớn. Cuối cùng, chỉ còn lại ba người con sống sót - ông Trương Quốc Đạt cùng chị gái (Trương Thị Nậy) và em trai nhỏ (Trương Xuân Đát) - lớn lên trong vòng tay yêu thương xen lẫn nỗi lo thường trực của cha mẹ.
Trưởng thành, ông Đạt trở thành thầy giáo. Trong lớp học nhỏ đơn sơ, ông gieo từng con chữ, nuôi dưỡng ước mơ cho những đứa trẻ quê nghèo. Nhưng bên trong người thầy trẻ là một trái tim luôn thao thức trước vận mệnh đất nước. Khi tiếng gọi của Đảng và Tổ quốc vang lên, ông biết mình không thể đứng ngoài.
Một buổi tối, dưới ánh đèn dầu, ông viết đơn xin lên đường nhập ngũ. Nét chữ nắn nót mà kiên quyết. Khi trao lá đơn cho cha mẹ, không khí trong căn nhà nhỏ như lặng đi. Bố mẹ ông hiểu, con đường này có thể là chia ly vĩnh viễn. Trái tim họ như thắt lại nhưng họ vẫn gật đầu.
Ngày 27 tháng 7 năm 1967, ông nhận được giấy bào nhập ngũ. Ngày tiễn con lên đường, mẹ nắm chặt tay con, nước mắt lăn dài. Cha ông chỉ lặng lẽ đặt tay lên vai con, khẽ gật đầu, ánh mắt tự hào đầy lưu luyến.
Người con gái ông thương chỉ kịp gửi một lời hẹn ước giản dị:
“Đợi ngày hòa bình… anh về, mang trầu cau sang nhà em thưa chuyện”
Mang theo lời hẹn ấy, ông bước vào chiến trường.
Ông vào chiến trường. Trong những trận đánh ác liệt, ông nổi bật bởi sự gan dạ, nhanh trí và tinh thần trách nhiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ của đơn vị, cấp trên giao phó. Từ một người lính, ông trở thành tiểu đội bậc trưởng đặc công – lực lượng tinh nhuệ, luôn đối mặt với hiểm nguy cận kề. Ông cùng đồng đội thực hiện nhiều nhiệm vụ nguy hiểm, góp phần làm nên những chiến công thầm lặng mà vang dội. Thành tích cụ thể: 1 giấy khen lập thành tích xuất sắc trận tấn công sân bay Động Bà Thìn (Khánh Hòa) ngày 26 tháng 9 năm 1969; 1 bằng khen, 1 giấy chứng nhận huân chương chiến công giải phóng hạng ba, hạng hai của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam, nhiều huân chương Hạng nhất, hạng nhì, hàng ba....
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Trong một trận chiến ác liệt, ông bị thương rất nặng ở chân và phần hạ bộ. Máu chảy ướt cả đất rừng. Ông được chuyển về bệnh xá tỉnh đội Khánh Hòa điều trị.
Vết thương khiến ông không thể tiếp tục chiến đấu trực tiếp nơi tuyến đầu. Sau đó, ông được chuyển về làm công tác Đảng tại khu vực Khánh Hòa – Nha Trang. Ở vị trí mới, ông vẫn không ngừng cống hiến. Ông đi khắp nơi gây dựng cơ sở, kết nạp những quần chúng ưu tú, thắp lên niềm tin cách mạng giữa vùng đất còn nhiều hiểm nguy.
Nhưng chiến tranh khốc liệt là thế...
Tháng 5 năm 1972, trong một lần đi làm nhiệm vụ “Biệt phái công tác ở Ban tổ chức Tỉnh ủy Khánh Hoà trong chống Mỹ”, ông rơi vào ổ phục kích của địch đã anh dũng hy sinh tại xóm Hộ, xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Sau khi hy sinh giặc Mỹ đã phơi thi thể ông giữa nắng nhiều ngày nhằm dụ bắt đồng đội. Bằng tất cả lòng biết ơn và kính trọng người chiến sĩ đã hiến trọn tuổi trẻ cho đất nước - nhân dân địa phương đã bí mật đưa ông về chôn cất.
Ở quê nhà, gia đình ngày ngày ngóng tin ông. Mỗi bước chân ngoài ngõ đều khiến cha, mẹ ông giật mình hy vọng. Cho đến ngày, 01 tháng 5 năm 1976 cán bộ xã đến. Tờ giấy báo tử trên tay, trái tim người cha già mẹ héo như chết lặng. Nỗi đau vỡ òa, tiếng khóc nghẹn ngào vang lên trong căn nhà nhỏ. Cha, mẹ, chị gái, em trai – tất cả chìm trong nỗi đau mất mát không gì bù đắp.
Hòa bình lập lại, nhưng với gia đình, nỗi trống vắng vẫn còn đó. Ước nguyện lớn luôn đau đáu trong lòng của cha mẹ ông là được biết nơi con nằm lại, được đón con trở về quê hương.
Một ngày thu tháng 8 năm 1994, họ nhận được lá thư từ người đồng đội cũ - ông Ngô Văn Dưỡng. Trong thư, ông kể lại những năm tháng chiến đấu, những chiến công và cả giây phút hy sinh đầy tự hào của chiến sỹ Trương Tuấn Đạt
Những dòng chữ như thắp lên một con đường.
Không chần chừ, cha và em trai nhỏ ngày nào của ông lên đường vào Khánh Hòa – Nha Trang, tìm về nơi chiến trường xưa. Họ đi qua những nơi từng có dấu chân ông, họ đứng trước mộ phần ông, thắp nén hương, nghẹn ngào gọi tên con, tên anh. bày tỏ ước nguyện được đưa ông về quê—về với cội nguồn.
Tháng 11 năm 1994, với sự giúp đỡ của đồng đội, của chính quyền và nhân dân địa phương, hài cốt ông được đưa về quê hương trong niềm xúc động và biết ơn sâu sắc. Ngày ông trở về, không phải trong bước chân của người lính trẻ, mà trong sự tri ân của cả một thế hệ, là biểu tượng của một thế hệ đã hiến trọn tuổi xuân cho Tổ quốc.
Giờ đây, ông yên nghỉ tại nghĩa trang quê nhà—nơi có cha mẹ, có gia đình thân yêu, có mảnh đất đã nuôi ông khôn lớn.
Thời gian trôi đi, chiến tranh lùi xa, nhưng câu chuyện về ông vẫn còn đó. Một người thầy rời bục giảng, một người lính bước vào “hoa lửa”, một tiểu đội bậc trưởng đặc công mưu trí, và một người cán bộ kiên trung đến giây phút cuối cùng.
Gia đình luôn tự hào về ông - người con, người anh, người chiến sĩ đã sống một cuộc đời như ngọn lửa: cháy hết mình trong “một thời hoa lửa”, nở ra những mùa bình yên cho đất nước hôm nay.
Người viết truyện
Trương Nguyên Phương



