Cựu chiến binh

KÝ ỨC NGƯỜI LÍNH NGUYỄN VĂN KIỂM

Ông Nguyễn Văn Kiểm (sinh năm 1946) – cựu chiến binh Tiểu đoàn 5 Nhà Bè – là nhân chứng sống của trận chiến Cầu Kinh 1967. Suốt 45 ngày đêm bám trụ, ông cùng đồng đội kiên cường chống lại quân Mỹ và ngụy, góp phần giữ vững vùng giải phóng. Dù mang thương tật suốt đời, những ký ức về đồng đội, những chiến thắng và cả hy sinh nơi chiến trường vẫn luôn hiện hữu, nhắc nhở thế hệ trẻ về lòng dũng cảm và tinh thần trung dũng kiên cường của những người đi trước.

Tây Ninh03/12/2025Ngô Thanh Tùng (Xã Phước Vĩnh Tây)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
KÝ ỨC NGƯỜI LÍNH NGUYỄN VĂN KIỂM

Trong những ngày tháng Tư lịch sử, khi không khí cả nước như lắng lại để tưởng nhớ những năm tháng hào hùng, tôi có dịp gặp và trò chuyện với ông Nguyễn Văn Kiểm (sinh năm 1946), cựu chiến binh của Tiểu đoàn 5 Nhà Bè, một người lính năm xưa từng trực tiếp tham chiến nơi vùng hạ Cần Giuộc. Ở cái tuổi mà thời gian thường khiến nhiều ký ức trở nên nhạt nhòa, ông Kiểm vẫn nhớ từng chi tiết, từng khuôn mặt đồng đội, từng tiếng súng vang lên giữa khu vực cầu Kinh năm 1967.

Ông bảo:

“Thời gian trôi qua, nhưng ký ức về những ngày bám trụ chiến đấu, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, thì vẫn sống trong tôi như mới hôm qua.”

Ông kể, vào ngày 05/6/1967, quân địch mở một cuộc hành quân quy mô lớn nhằm xóa sổ vùng giải phóng của ta ở vùng hạ huyện Cần Giuộc. Chúng huy động Lữ đoàn 2, Sư đoàn 9 Mỹ, Trung đoàn 46, Sư đoàn 25 của chính quyền Sài Gòn, cùng vô số vũ khí hiện đại, xe cơ giới, máy bay và tàu chiến. Đó là một thế trận cực kỳ chênh lệch, với mục tiêu dập tắt hoàn toàn lực lượng cách mạng tại địa bàn chiến lược này.

Thế nhưng, trước sức mạnh tưởng như không thể chống nổi ấy, quân và dân vùng hạ Cần Giuộc gồm Tiểu đoàn 5 Nhà Bè, Đại đội 316 Cần Giuộc và du kích liên xã, vẫn kiên cường bám trụ. Người dân giữ đất, bộ đội giữ trận địa. Họ vừa chiến đấu, vừa giữ gìn con đường sống cho vùng giải phóng. Suốt 45 ngày đêm (từ 05/6 đến 20/7/1967), một cuộc chiến giằng co ác liệt đã diễn ra và kết quả, như bia chiến thắng còn ghi lại: quân và dân ta đã kiên cường đánh bại nhiều đợt tấn công, tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm lính Mỹ, bắn rơi 21 máy bay, đánh chìm và làm cháy 12 tàu chiến, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng. Riêng tại khu vực cầu Kinh nơi ông Kiểm trực tiếp chiến đấu ngày 05/6/1967 đã diễn ra một trận phục kích dữ dội. Lực lượng của ta đã chặn đứng cuộc hành quân, tiêu diệt hơn 200 lính Mỹ, bắn rơi 4 trực thăng và đánh chìm 3 tàu chiến. Đó là một chiến công được nhắc lại cho đến hôm nay với niềm tự hào sâu sắc. Chiến thắng cầu Kinh không chỉ là thắng lợi quân sự mà còn mang ý nghĩa chiến lược lớn: nó góp phần làm phá sản kế hoạch phản công mùa khô của địch, giữ vững thế chủ động trên chiến trường và thổi bùng tinh thần đấu tranh chống Mỹ, ngụy trong nhân dân.

Kể về chiến công thì giọng ông Kiểm rắn rỏi như người lính năm xưa. Nhưng khi nhắc đến đồng đội, chất giọng ấy chợt nghẹn lại. Ông dẫn tôi ra một gò đất nằm cạnh con đường ấp, nơi những bụi cây mọc sum suê.

Ông bảo: “Ở đây ba đồng đội tôi ngã xuống.”

Trước khi Khu di tích lịch sử cầu Kinh được xây dựng, chính ông đã lập một miếu nhỏ để hương khói cho những người đã hy sinh tại mảnh đất này. Những cái tên mộc mạc mà thân thương như Mười Đẹt, Tư Tòng, Năm Bổn… vẫn quen thuộc trong giọng ông như vẫn còn sống mãi cùng ông trên mỗi đoạn đường chiến đấu. Rồi ông kể về Tám Nghĩa người đồng đội đặc biệt mà ông mang ơn cả đời. Trong một trận đánh, Tám Nghĩa bị trúng đạn và gục xuống ngay sát bên cạnh ông. Tưởng anh đã hy sinh, ông Kiểm đưa thi thể đến một hố mìn để chuẩn bị chôn cất. Nhưng đúng lúc đó, địch bất ngờ quay lại tấn công dữ dội. Ông buộc phải bỏ lại mọi thứ để tiếp tục chiến đấu và bị thương ở bàn tay trái. Hai ngày sau, trong lúc điều trị vết thương, ông bất ngờ gặp lại Tám Nghĩa người đồng đội mà ông cứ ngỡ đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. Hóa ra, khi quay lại tìm, đồng đội phát hiện Tám Nghĩa vẫn còn sống, dù bị thương nặng. Cuộc trùng phùng ấy trở thành một trong những ký ức sâu nhất trong đời ông: một khoảnh khắc giữa lằn ranh sống chết, mất mát và đoàn tụ.

Khi tôi hỏi về cánh tay phải chỉ còn đến tận sát nách, ông Kiểm bình thản kể rằng đó là vết thương trong lần ông ra Bắc công tác năm 1970. Sau này, ông được công nhận thương binh hạng 1/4. Vết thương cũ thường hành ông mỗi khi trời trở gió, nhưng với ông, điều quan trọng hơn là mình đã sống sót trở về, điều mà nhiều đồng đội tôi không có được.

Ông nhìn xa xăm, giọng chậm lại:

“Tôi may mắn hơn nhiều người. Còn bao đồng đội vẫn nằm lại đâu đó trên từng tấc đất quê hương”

Câu nói ấy như một nén nhang vô hình thắp lên giữa buổi chiều lặng gió, khiến cả không gian quanh chúng tôi bỗng trầm xuống. Cuộc chiến đã lùi xa, nhưng với những người như ông Kiểm, ký ức về đồng đội, về trận mạc, về sự sống và cái chết vẫn chưa bao giờ thực sự khép lại.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn