Bài viết

Ký ức người lính Thành cổ – Ngọn lửa không bao giờ tắt

Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, có những con người bình dị nhưng lại mang trong mình những ký ức lớn lao, những năm tháng không thể nào quên. Với tôi, câu chuyện về bác Hồ Sỹ Nam – một người anh em trong họ tộc – luôn là nguồn cảm xúc sâu sắc, niềm tự hào mạnh mẽ mỗi khi nhắc đến những ngày tháng chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972.

Nghệ An13/08/2026Phường Xuân Hương - Đà Lạt ((LĐ) Đoàn phường Xuân Hương - Đà Lạt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Ký ức người lính Thành cổ – Ngọn lửa không bao giờ tắt

Ký ức người lính Thành cổ – Ngọn lửa không bao giờ tắt

Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, có những con người bình dị nhưng lại mang trong mình những ký ức lớn lao, những năm tháng không thể nào quên. Với tôi, câu chuyện về bác Hồ Sỹ Nam – một người anh em trong họ tộc – luôn là nguồn cảm xúc sâu sắc, niềm tự hào mạnh mẽ mỗi khi nhắc đến những ngày tháng chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972.

Bác Hồ Sỹ Nam sinh năm 1952, quê ở xã Thanh Chi, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An (cũ). Tháng 5/1969 bác tốt nghiệp lớp toán đặc biệt của Bộ Giáo dục, lúc đó sơ tán ở núi rừng Thạch Thành, Thanh Hóa và được về phép trong lúc chờ đợi giấy báo đại học. Thế nhưng, khi đất nước gọi tên, bác đã gác lại những dự định riêng để lên đường nhập ngũ. Đó không chỉ là quyết định của riêng bác, mà còn là hình ảnh tiêu biểu của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam sẵn sàng hy sinh tuổi xuân vì Tổ quốc. Bây giờ, khi đã về hưu, bác vẫn luôn thường nhắc về những kỷ niệm chiến đấu trên trang Facebook cá nhân như để truyền cảm hứng cho giới trẻ và cũng là nhắc cho bản thân những kỷ niệm quý giá không bao giờ quên được.

Picture1.jpg

Hình ảnh người cựu chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị 1972 - bác Hồ Sỹ Nam

Nhắc đến những đồng đội đã hi sinh, ký ức về những lần suýt mất mạng khiến bác nhớ rõ như in: “Nhập ngũ năm 1971, tôi có 4 bạn cùng học 1 lớp tham gia chiến dịch 81 ngày đêm bảo vệ thành cổ Quảng Trị ( 28/6 - 16/9/1972) nhưng 3 bạn đã hy sinh: Phan Văn Lan hy sinh tháng 7/1972, Phạm Đức Toàn hy sinh tháng 9/1972, Nguyễn Đình Thắng bị nhiễm chất độc tái phát và cũng đã mất… Còn tôi vẫn sống mặc dù mắt đã mờ tai đã điếc chân đã yếu; trong trận chiến 81 ngày đêm tôi đã nhiều lần suýt chết. Ví dụ:

- Lần thứ nhất rạng sáng 20/5/1972 bị một quả pháo bắn tung hầm tại thôn Đại Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên khi đơn vị tập kích cụm quân địch đóng tại đây.

- Lần thứ 2 lúc khoảng 9 giờ đêm 26/6/1972 bị quả bom B52 đánh trúng hầm tại thôn Cô Hoan, xã Hải Thiện, huyện Hải Lăng Quảng Trị, đồng đội tên Định người tỉnh Hoà Bình nằm cùng Hầm bị thương nặng và hy sinh.

- Lần thứ 3 chiều 28/6/1972 tôi bị bom B52 đánh sập hầm cũng tại thôn Cô Hoan….

- Lần thứ 4 tháng 10/1972 tôi lại bị bom B52 đánh bị thương tại thị trấn Đông Hà, Quảng Trị. Sau nhiều lần bị bom và pháo đánh trúng chỉ bị thương nhưng thoát chết nên được một số anh em trong đại đội gọi tôi là “CON TRỜI””.

Picture2.jpg

Hình ảnh bác Hồ Sỹ Nam cùng các đồng đội cũ của Trung đoàn 27 gặp mặt truyền thống.

Những ngày đầu bước vào chiến trường, đó là cảm giác vừa bỡ ngỡ vừa căng thẳng. Và rồi, ngay từ đêm đầu tiên đặt chân lên đất miền Nam, bác đã cảm nhận rõ rệt ranh giới giữa hậu phương và chiến trường. Bác vẫn còn nhớ như in những ngày đầu tiên ấy: “Sau sáu tháng huấn luyện trên đất Bắc và gần một tháng hành quân vượt Trường Sơn vào chiến trường, chiều ngày 15 tháng 4 năm 1972 là thời khắc tôi không bao giờ quên. Đó là buổi chiều chúng tôi tạm biệt miền Bắc thân yêu, tạm biệt mảnh đất Vĩnh Linh anh hùng để bước qua vĩ tuyến 17, chính thức đặt chân vào chiến trường Quảng Trị. Khoảng 18 giờ, Đại đội 17 hành quân trong tuyến giao thông hào sâu quá đầu người, dài chừng ba kilômét dẫn ra bờ sông Bến Hải. Trời đã nhá nhem tối. Những chiếc xuồng của du kích lặng lẽ chờ sẵn bên bờ. Khi xuồng vừa chạm bến phía nam, tôi biết rằng mình đã bước sang một thế giới khác. Sau lưng là miền Bắc, trước mặt là chiến trường. Từ phía Đông Hà, tiếng đại bác vọng về liên hồi, từng đợt rung chuyển cả mặt đất. Khắp bầu trời, những quả pháo sáng của địch chậm rãi buông xuống, biến màn đêm thành thứ ánh sáng trắng đục đầy chết chóc. Đêm ấy, chúng tôi lặng lẽ băng qua những cánh đồng, những đồi cát và khe suối, vừa đi vừa tránh các loạt pháo bắn cầm canh của địch. Không ai nói với ai một lời. Chỉ có tiếng bước chân, tiếng ba lô va vào nhau và tiếng đạn pháo vọng lại không dứt. Gần sáng, đơn vị đến bến vượt làng Xuân Khánh, xã Gio Hà, quận Gio Linh. Trước mắt chúng tôi là một ngôi làng tiêu điều. Những ngôi nhà xây đổ nát nằm ngổn ngang, vườn không nhà trống, dân đã sơ tán hết. Trên những cánh đồng, lúa chín vàng rực nhưng không còn ai gặt hái. Khung cảnh ấy vừa hoang vắng vừa đau xót, như lời nhắc nhở rằng chiến tranh đã cướp đi sự bình yên của biết bao con người. Theo kế hoạch, ngay trong đêm chúng tôi sẽ vượt tiếp ngã ba sông Cửa Việt để sang Triệu Vân. Nhưng bến vượt đã bị địch phát hiện. Pháo kích dữ dội khiến cả khu vực tan hoang. Không còn du kích dẫn đường, Không còn tín hiệu liên lạc. Giữa vùng đất hoàn toàn xa lạ, đơn vị rơi vào tình thế tiến cũng khó mà lùi cũng không xong. Để bảo toàn lực lượng, đại đội chia nhau tìm những căn nhà đổ nát còn sót lại, chui xuống các hầm trú ẩn của dân nghỉ tạm qua đêm. Đó là đêm đầu tiên tôi ngủ trên đất miền Nam. Sáng hôm sau, khi mặt trời còn chưa mọc hẳn, anh em tỏa đi tìm nơi sơ tán mới. Đến khoảng 6 giờ sáng, trinh sát tiền trạm trở về báo tin khẩn: phải rút khỏi làng ngay lập tức. Nắng tháng Tư ở Quảng Trị chói chang như thiêu đốt. Máy bay trinh sát OV-10 quần đảo liên tục trên bầu trời, tìm kiếm lực lượng giải phóng vừa vượt tuyến trong đêm. Theo kinh nghiệm của người chỉ huy đã nhiều năm chiến đấu ở chiến trường này, mỗi người chúng tôi nhổ một gốc ớt còn nguyên cành cầm trên tay hoặc cài lên ba lô để ngụy trang. Khi có lệnh thì đứng yên bất động, khi có lệnh thì chạy thật nhanh. Nhờ sự bình tĩnh và kinh nghiệm ấy, cả đại đội đã vượt qua nhiều kilômét giữa ban ngày mà không bị địch phát hiện. Đến trưa, đơn vị tới một đồi cây thấp cách bến vượt khoảng bốn kilômét. Mỗi người đào một hầm cá nhân dưới những bụi cây lúp xúp. Chúng tôi ở đó bốn ngày, giữa cái nắng bỏng rát của đồng bằng Quảng Trị. Ban ngày, máy bay địch làm chủ bầu trời. Ban đêm, tiếng bom, tiếng pháo vẫn dội về từ Đông Hà, Ái Tử và thị xã Quảng Trị không lúc nào ngớt. Đó là những ngày đầu tiên tôi sống trên mảnh đất Quảng Trị – mảnh đất sau này đã gắn bó với tuổi hai mươi của tôi bằng biết bao máu, nước mắt và ký ức không bao giờ phai.”

Nếu như chiến trường là nơi thử thách ý chí, thì đời sống của người lính lại là minh chứng rõ nét cho sự gian khổ. Những ngày chiến đấu, bữa ăn chỉ có cơm nắm với chút muối, ruốc hoặc thịt hộp. Có khi cả ngày không thể nấu cơm vì sợ lộ khói. Nước uống được lấy từ ruộng, ao, hố bom – chỉ cần có nước là uống. Giấc ngủ thì chập chờn, ngắt quãng giữa tiếng bom đạn. Có những ngày gần như không ngủ, chỉ tranh thủ chợp mắt vài phút rồi lại tiếp tục chiến đấu. Dù gian khổ nhưng khi nhắc lại, bác không khỏi tự hào.

Picture3.jpg

Bác Nam cùng đồng đội Lê Đình Chinh - người đã kề vai chiến đấu cùng bác trong chiến dịch 81 ngày đêm.

“Chiến dịch giải phóng Quảng Trị mở màn ngày 30 tháng 3 năm 1972. Từ đó đến khoảng đầu tháng 5 năm 1972 là giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Tri. Tiếp theo là giai đoạn từ 1 tháng 5 đến 20 tháng 5 năm 1972 được nghỉ dưỡng sức tại thôn Phú Liêu, xã Triệu Tài, chiến trường Quảng Trị tuy vẫn diễn ra nhiều trận bom và pháo kích của địch, nhưng tương đối yên hơn. Máy bay và pháo binh địch vẫn đánh phá ác liệt vào các mục tiêu trọng điểm, song bộ đội chúng tôi cũng có những khoảng thời gian ngắn được nghỉ ngơi, củng cố lực lượng và chuẩn bị cho những trận chiến mới. Nhưng sự yên tĩnh ấy chỉ kéo dài trong khoảng 18 ngày. Đêm 19/5 rạng sáng 20/5/1972 chúng tổ chức tập kích vào cụm quân địch ở Đại Lộc, huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên, đến 26/5 rút quân khỏi Thừa Thiên về giữ Quảng Trị để mở màn cuộc phản công quy mô lớn mà phía địch gọi là Chiến dịch Lam Sơn 72. Những ngày cuối tháng 6 năm 1972 địch dùng máy bay B52 và pháo binh dọn chiến trường khu vực các huyện của Quảng Trị giáp với tỉnh Thừa Thiên Huế; tối ngày 26 tháng 6 năm 1972, máy bay B-52 bắt đầu rải thảm bom xuống khu vực đơn vị chúng tôi đang đóng quân tại thôn Cổ Hoan, xã Hải Thiện, huyện Hải Lăng, cùng nhiều địa điểm dọc bờ sông Mỹ Chánh – ranh giới giữa Quảng Trị và Thừa Thiên. Đến chiều ngày 28 tháng 6, B-52 lại tiếp tục ném bom lần thứ hai đúng vào nơi đơn vị tôi đang chốt giữ chờ địch tới. Chỉ trong hai đợt ném bom, một vùng quê vốn đông dân cư, với những mái nhà yên bình, những hàng tre xanh rì rào trong gió trưa hè, đã bị biến thành bình địa. Nhà cửa đổ nát, cây cối bật gốc, hố bom chồng lên hố bom. Nhiều hầm trú ẩn của bộ đội bị sập, nhiều đồng đội hy sinh hoặc bị thương. Có một gia đình chín người, đêm ấy tám người bị vùi lấp dưới hầm, chỉ còn một em bé tám tuổi sống sót vì hầm nhà chật, em được bố mẹ cho sang ngủ nhờ hầm của hàng xóm. Những hình ảnh ấy cho đến hôm nay vẫn còn in đậm trong ký ức tôi.

Từ cuối tháng 6 năm 1972 trở đi, cuộc chiến bước vào giai đoạn vô cùng ác liệt. Chúng tôi chiến đấu liên tục trên vùng đồng bằng trống trải, không có rừng núi che chắn. Ban ngày luôn bị máy bay trinh sát OV-10 và các loại máy bay khác quần đảo phát hiện mục tiêu. Ngoài bom từ trên trời, còn có pháo binh từ phía nam Thừa Thiên và pháo hạm của Hạm đội 7 ngoài biển bắn cấp tập vào trận địa. Vì vậy, bộ đội phải tự nấu ăn theo từng tiểu đội. Gạo là lương thực chủ yếu, mỗi người khi bước vào một đợt chiến đấu thường mang theo khoảng từ 3 đến 6 kg gạo. Thức ăn rất đơn giản, chỉ có ruốc bông khô hoặc thịt hộp. Mỗi bữa chỉ có một món mặn, hoàn toàn không có rau và cũng không có canh. Mỗi lần chuẩn bị tập kích cụm đóng quân của địch vào ban đêm, anh em bộ đội lại tự nấu cơm ăn từ chiều, và nắm 1 vắt cơm trộn thêm chút muối mang theo và hành quân suốt đêm, đó thường là bữa sáng của ngày hôm sau của người lính quân giải phóng chúng tôi tại chiến trường Quảng Trị năm 1972. Có những ngày máy bay trinh sát hoạt động suốt từ sáng đến chiều. Không ai dám nổi lửa nấu cơm vì chỉ cần một làn khói bốc lên cũng có thể khiến cả đơn vị bị lộ vị trí. Nếu bị phát hiện, chỉ ít phút sau bom hoặc pháo sẽ dội xuống. Những lúc ấy, chúng tôi đành nhịn đói hoặc ăn chút lương khô ít ỏi mang theo. Đánh giặc chủ yếu vào ban đêm hoặc lúc rạng sáng. Ban ngày thường là thời gian để chúng tôi củng cố trận địa. Vì thế, bữa cơm của người lính không bao giờ đúng giờ.

Điều kiện thiếu thốn đến mức, ở đâu có nước là ở đó có nguồn sống, rời xa công sự đi tìm nước là dễ gặp đạn pháo của địch. Nước uống của chúng tôi được lấy từ nước ruộng, nước sông, nước mương, nước ao, thậm chí cả những hố bom, hố pháo, hố trâu nằm còn đọng nước sau những trận mưa. Chỉ cần nhìn thấy nước là anh em dùng bi đông múc đầy để mang theo. Không ai nghĩ đến chuyện nước sạch hay nước bẩn. Giữa chiến trường, có nước để uống đã là một điều may mắn.

Giấc ngủ đối với người lính Quảng Trị năm ấy là một điều vô cùng xa xỉ. Trên đường hành quân đi tập kích, khi quá mệt, người chỉ huy cho đơn vị nghỉ chừng ba mươi phút hoặc một giờ. Mỗi người nằm ngay bên vệ đường. Đất cát làm giường, ba lô làm gối, quần áo đang mặc vừa là chăn vừa là màn. Chỉ cần nhắm mắt được một lát là lại tiếp tục lên đường. Trong các trận đánh tập kích, hầu như không ai ngủ. Không phải vì không muốn ngủ, mà vì không dám ngủ. Ai cũng phải căng mắt quan sát, lắng nghe từng tiếng động, đề phòng địch phản kích. Có những trận đánh kéo dài gần một tuần lễ, chúng tôi không còn nhớ mình đã ngủ lúc nào. Chỉ tranh thủ chợp mắt vài phút trong bờ mương, bụi rậm hay hố cá nhân rồi lại tiếp tục chiến đấu. Khi giữ các trận địa chốt trên vùng đất vừa giành được, nơi ngủ của chúng tôi là những căn hầm chữ A tự đào bằng đất. Những căn hầm ấy vừa là nơi trú bom, mảnh đạn pháo của địch vừa là nơi sinh hoạt, vừa là nơi ngủ. Nhưng đó cũng chưa bao giờ là giấc ngủ yên bình. Bom B-52 và pháo binh địch đánh suốt ngày đêm. Mỗi khi nghe tiếng đạn pháo rít qua trên đỉnh đầu, tất cả đều theo phản xạ lấy hai tay bịt chặt tai. Đạn nổ gần đến mức đất cát rơi lả tả xuống mái hầm. Giấc ngủ luôn chập chờn, đứt quãng bởi những tiếng nổ rung chuyển mặt đất.

Trong mỗi đợt chiến đấu kéo dài, có khi cả nửa tháng chúng tôi chỉ mặc duy nhất một bộ quần áo. Lội qua sông, ngụp lặn trong mương nước, quần áo ướt sũng rồi lại tự khô trên người. Không có thời gian để thay, cũng không có điều kiện giặt giũ. Mỗi người chỉ mang theo một tấm tăng ni-lông. Nếu chẳng may hy sinh, đồng đội sẽ dùng chính tấm tăng ấy quấn thi thể để mai táng ngay bên công sự. Đó là hiện thực giản dị nhưng vô cùng khắc nghiệt của cuộc chiến. Sau gần một năm chiến đấu vô cùng ác liệt và gian khổ, vừa thiếu ăn, thiếu ngủ, vừa liên tục đối mặt với bom đạn, hầu hết chiến sĩ đều gầy đi rất nhanh. Bình quân mỗi người sút khoảng mười ki-lô-gam. Riêng tôi, ngày nhập ngũ cân nặng 50 ki-lô-gam. Đến ngày Hiệp định Paris có hiệu lực, 27 tháng 1 năm 1973, tôi chỉ còn 38 ki-lô-gam, người gầy chỉ còn da bọc xương. Thế nhưng, điều kỳ lạ là tinh thần của chúng tôi vẫn không hề suy sụp. Dù thân thể gầy gò, ai cũng giữ vững ý chí, vẫn lạc quan, vô tư và luôn sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Chúng tôi hiểu rằng, phía sau mình là Tổ quốc, là nhân dân, là khát vọng thống nhất đất nước. Chính niềm tin ấy đã giúp người lính quân giải phóng vượt qua những tháng ngày gian khổ nhất của chiến trường Quảng Trị năm 1972.”

Ngày nay, thế hệ trẻ vẫn luôn nhắc nhở nhau “Họ cầm súng để chúng ta cầm bút, họ đi trong bóng tối để chúng ta được ngắm ánh bình minh” để không bạn trẻ nào quên đi sự hi sinh của các anh hùng liệt sĩ, các bác cựu chiến binh. Thời đó, những ngày tháng sống yên bình đã vô cùng hiếm hoi chứ đừng nói đến việc được đón những dịp lễ, tết đúng nghĩa. Nhắc về cái Tết đáng nhớ năm 1972 trên chiến trương, bác Nam không thể nào quên được.

“Đón tết nay lại nhớ tết xưa: Đón tết 1972 tại chiến trường B5 Quảng Trị, trên trận địa thuộc làng Tân Định, xã Triệu Long, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị - cách bờ sông Thạch Hãn 30m, cách quận lị Triệu Phong 300m nơi địch mới chiếm lại của ta. Nói là làng Tân Định xã Triệu Long nhưng đạn pháo và bom B52 của Mỹ Nguỵ đã san phẳng nhà cửa, cây cối hết rồi hết. Trên toàn bộ tỉnh Quảng Trị, dân làng đi sơ tán hết, chỉ có quân giải phóng ở lại giữ vùng mới giải phóng thôi. Hiệp định Pa - ri vừa ký kết, hoà bình trên danh nghĩa đã về trên đất Miền Nam Việt Nam. Nhưng người lính quân giải phóng chúng tôi vẫn phải sẵn sàng chiến đấu. Sau gần 1 năm chiến đấu liên tục, chốt giữ và bảo vệ thành cổ Quảng Trị. Nhà cửa cây cối toàn tỉnh Quảng Trị đã bị bom B52, đạn pháo và máy bay mém bom san phẳng. Nhiều đồng đội đã hy sinh, bị thương, mặc dù đã được bổ sung quân nhiều lần. Nhưng khẩu đội hoả lực của chúng tôi vẫn bảo toàn, chỉ còn 5 anh em : Hồ Nam; Lục (Hà Tĩnh); Lý, Lê (Nghệ An); Thuần (Hà Nội). Chúng tôi vẫn phải trực chiến suốt ngày đêm, vẫn bán trụ trong công sự, trong 2 hầm chữ A tự đào bằng đất, gỗ làm đòn nóc, cùng với tôn làm mái giữ đất. Một hầm công sự hình tròn lỗ thiên rộng 2,5m, sâu khoảng 1,5m để khẩu cối 82 và hàng trăm quả đạn để ở ngách xung quanh; trên hầm được ngụy trang cẩn thận để máy bay trinh sát OV10, L19 không phát hiện ra. Tết đến chúng tôi tự chuẩn bị được 4 chiếc bánh chưng tự nấu; 01 kg kẹo socola của mặt trận B5 cho, 1 tút thuốc lá của bác Tôn Đức Thắng gửi; 2 kg thịt vịt của các o du kích miền Nam biếu; 01 kg thịt heo của đại đội 17; 2,0 kg cá đồng tự đi bắt; 3 kg bánh mướt tự tráng. Góp vui trong những ngày tết có các o du kích (Hường, Hai, Lài, Hoan, mẹ của Hường ở thôn Tân Định) đến hát hò, ăn uống nên cũng rất vui, đỡ nhớ nhà, nhớ quê hương. Mặc dù đã đình chiến, tiếng súng trên chiến trường đã im bặt, nhưng trận địa chốt của chúng tôi vẫn sẵn sàng. Ban đêm 5 anh em thay nhau thức trực chiến, tay ôm súng đứng gác mắt dõi theo mọi động tĩnh của quân địch phía trước, khẩu cối được lấy tầm, hướng cố định nhằm vào quân thù, sẵn sàng nhả đạn khi cần. Cơm ăn nước uống 5 anh em đồng đội tự phục vụ, chỉ liên lạc trực chiến với đơn vị qua điện đài. Chiều mồng một tết lên chốt gặp đơn vị thủy quân lục chiến địch; hầm hào 2 bên cài răng lược ở giữa đồng Chợ Sải cách địch khoảng 10 m; bên ta có loa phóng thanh hát những bài ca cách mạng, ca ngợi đánh Mỹ của quân giải phóng như bài Tiếng đàn ta lư…. Bên phía địch cũng chĩa loa sang quân ta hát những bài ca phản chiến. Nhiều ngôi mộ của quân ta được chôn đất còn mới, vì lúc đánh nhau quá ác liệt, tử sĩ không thể đưa về tuyến sau chôn cất được, nên quân ta buộc phải chôn đồng đội tại chỗ. Tôi gặp thằng Quân quê Đà Nẵng, sỹ quan tâm lý chiến của lữ đoàn 147 thuỷ quân lục chiến địch, bọn lính địch mời bộ đội ta kẹo socola, thuốc lá huynh đệ chi binh, anh em chúng tôi sợ không ai giám ăn, không hút thuốc lá của địch, chúng nó bảo không có thuốc độc đâu. Bọn địch nhìn đứa nào cũng béo khoẻ nhưng hơi đen, mặc áo rằn ri trông rất dữ, quân giải phóng ai cũng gầy da trắng xanh, vì ban ngày sống gần cả năm dưới hầm, đêm mới lên tổ chức tập kích địch, trừ những lúc đánh trả bọn địch lấn chiếm đất thì phải đánh cả ngày lẫn đêm, nhưng phải tránh máy bay địch phát hiện. Khi gặp Quân - một tên sỹ quan tâm lý chiến nguỵ, Quân nói nhiều về chuyện đời, gia đình, vợ con, người yêu, đời lính, lý tưởng, tương lai. Nó bảo nó đi lính vì hận người yêu đang học đại học văn khoa Huế bị chết trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968, nó chiến đấu vì lý tưởng, vì thế giới tự do của nó, vì Việt Nam Cộng Hòa...v.v ... Có lúc tôi rợn tóc gáy khi nó chỉ những ngôi mộ đồng đội tôi mới chết mấy tuần trước, được chôn vội xung quanh hầm, hào của bộ đội ta trong những ngày 2 phía còn đánh nhau căng thẳng. Nó bảo tôi anh nhìn đi, tay nó chỉ về các ngôi mộ, các anh chỉ là viên gạch lát đường cho người khác bước tiếp....các anh được gì sau cuộc chiến, thật sự lúc đó tôi hơi hoảng ...sau một phút lặng người, tôi nói chúng tôi vào Nam để đánh đuổi bọn xâm lược Mỹ, trong cuộc chiến này chúng tôi có thể chết. Nhưng sự hy sinh của chúng tôi là để giải phóng dân tộc thống nhất tổ quốc, sự hy sinh của chúng tôi sẽ được muôn đời người Việt Nam ghi nhớ công ơn…Thấy tôi nói say sưa hùng hồn quá Quân nó im lặng..... Hết giờ chúng tôi về lại trận địa chốt của mình, lại kiểm tra công sự, súng đạn, lại cùng nhau phân công nấu cơm cho 5 anh em tối mồng một Tết. Nửa đêm rạng sáng mồng 2 Tết chúng tôi được lệnh bắn 10 quả đạn cối vào trận địa nơi địch chốt giữ mà buổi chiều 2 phía còn mời kẹo thuốc lá nói chuyện vui vẻ với nhau. Chúng tôi mới bắn được 6 quả đạn cối vào đội hình chốt của ngụy theo yêu cầu của bộ binh thì được lệnh dừng lại, (vì đêm hôm đó bọn ngụy say rượu bắn súng cực nhanh vào phía chốt quân ta)....Sáng hôm sau bọn nguỵ đòi kiện quân ta tới phái đoàn liên hiệp quân sự 4 bên, nhưng bên ta nói do bên đó đánh trước, chúng tôi chỉ đánh tự vệ…. Tết của người lính quân giải phóng chúng tôi tại chiến trường Quảng Trị 1972 -1973 là thế đó…”

Đọc những dòng này, ắt hẳn ai cũng không khỏi xót xa và biết ăn vì những khó khăn, vất vả và hi sinh của những chiến sĩ anh hùng.

“Ngày 20/12 năm 1972! Trung đoàn 27 và đại đội 17 đại đội hoả lực trực thuộc trung đoàn 27 của tôi được chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà Miền Nam Việt Nam tuyên dương anh hùng….Đại đội 17 rất vinh dự và tự hào là đại đội duy nhất được phong anh hùng tại mặt trận Quảng Trị ở thời điểm đó. …….Một chiến công trong nhiều chiến công của đại đội 17 anh hùng trong 5 năm chiến đấu trên chiến trường Quảng Trị mà tôi biết được đó là Chỉ một trận đánh trên vùng Cùa - Cam Lộ bằng 4 khẩu cối 82 ly, trong chưa đầy 1 giờ chiến đấu, bằng mưu trí lòng dũng cảm và độ chính xác cao đại đội 17 của tôi đã tiêu diệt được 2 đại đội lính thuỷ đánh bộ Mỹ (120 tên)”

Sau chiến tranh, bác Hồ Sỹ Nam tiếp tục học tập tại Trường Đại học Thủy sản, rồi công tác tại tỉnh Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng). Trở về với đời thường, bác vẫn giữ nguyên phẩm chất của người lính năm xưa: giản dị, trách nhiệm, tận tụy. Đến nay, bác đã hơn 50 năm tuổi Đảng, luôn là đảng viên gương mẫu, tích cực tham gia các hoạt động của địa phương và hội cựu chiến binh.

Picture4.jpgPicture5.jpg

Những hình ảnh - cũng là niềm tự hào của người cựu chiến binh

Với tôi – một người làm giáo dục – câu chuyện của bác không chỉ là ký ức cá nhân, mà là một bài học sống động về lòng yêu nước, về trách nhiệm và sự hy sinh. Những gì bác đã trải qua giúp thế hệ hôm nay hiểu rằng hòa bình không phải điều hiển nhiên, mà là thành quả của biết bao mất mát.

Thời gian có thể trôi qua, nhưng những ký ức về Thành cổ Quảng Trị vẫn còn đó – như một ngọn lửa âm thầm cháy mãi. Và qua lời kể của những người lính như bác Hồ Sỹ Nam, ngọn lửa ấy sẽ tiếp tục được truyền lại cho các thế hệ mai sau.

Đó không chỉ là ký ức của một con người, mà còn là ký ức của cả một dân tộc.

Thực hiện: Hồ Thị Cúc - Đoàn viên trường Mầm non 2, phường Xuân Hương - Đà Lạt.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn