Bài viết

KÝ ỨC NGƯỜI LÍNH TRINH SÁT

Ninh Bình30/05/2026Lương Ngọc Tường Vy (11a3)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1968, tôi cùng lớp trai làng quê lúa Thái Bình lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc, tất cả vì miền Nam ruột thịt. Lớp lớp thanh niên chúng tôi lên khu Đông Triều – Quảng Ninh huấn luyện, rèn mang vác nặng hành quân xa, tập sử dụng súng đạn, lăn lê bò toài. Hết huấn luyện bộ binh, tôi được điều đi học lớp kế toán trinh sát pháo binh. Và rồi một ngày tháng 7/1970, chúng tôi nhận lệnh lên đường.

Hơn tám trăm cán bộ, chiến sĩ đơn vị huấn luyện lên tàu qua Hà Nội theo hướng Nam thẳng tiến. Đoàn tàu không đi thẳng hướng Nam mà dừng ở ga Si. Chúng tôi ngược hướng Tây hành quân bằng cơ giới, lên thượng nguồn sông Lam theo đường 7 mà đi. Tới Nậm Cắn cửa khẩu Việt – Lào, tôi nghe anh em nói với nhau: “Mình sang Lào, đang ở đất Lào rồi”.

Đoàn chúng tôi tới một khu rừng già rồi chia nhau đi các ngả, một bộ phận lớn vào Trung đoàn 866. Những ngày ở đây tôi được biết một số anh em trong đó có anh Đắc, anh Lực quê Hưng Yên là những cán bộ khung huấn luyện chúng tôi cùng vào. Anh Lực làm trợ lý quân lực ở huấn luyện nên được điều về Tiểu đoàn 924 làm quân lực. Còn tôi và anh Đắc về Bản Hai nơi Tiểu đoàn 7 đóng quân. Anh Đắc ở huấn luyện làm trợ lý chính trị nên tiểu đoàn điều anh về làm Chính trị viên Đại đội 2, hiện đơn vị đang ở chân Phu Khé, còn tôi về đơn vị thông tin của tiểu đoàn.Đúng lúc tiểu đoàn thành lập thêm một tiểu đội trinh sát, thấy tôi to khỏe và nhanh nhẹn, tiểu đoàn điều tôi từ thông tin sang làm Tiểu đội trưởng. Số trinh sát cũ còn ba người, lấy bổ sung thêm anh em mới quê Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Lào Cai, Hà Bắc. Tiểu đội có quân số trên chục người đã đủ sức hoàn thành nhiệm vụ nắm địch.

Mấy năm liền, cứ mùa khô chúng tôi đánh và giành lại các cứ điểm địch chiếm giữ. Mùa mưa quân ta gặp nhiều khó khăn tiếp tế hậu cần, địch lại nống lấn đấy ta ra. Mùa khô ta lại tấn công giành lại… Chiến trường cứ giằng co như thế. Đầu mùa khô năm 1971, tiểu đội trinh sát của tôi lên trinh sát Phu Khé và Thà đã hy sinh ở đây. Sau khi nắm chắc tình hình địch, chúng tôi đã dẫn Đại đội 1 và Đại đội 2 của tiểu đoàn đánh Phu Khé giành thắng lợi, ta đã làm chủ và giữ vững điểm cao này.

Từ Phu Khé chúng tôi lại đi nắm địch ở cao điểm 1863, 1804, Phu Pha Xay… để chuẩn bị cho tiểu đoàn tham gia chiến dịch Z.

Đúng đêm 18/12/1971, từ trên đài quan sát tôi thấy những vầng lửa da cam đỏ rực, những con rồng lửa đan xen chéo nhau sáng cả một vùng trời và những tiếng nổ ầm ầm của DKZ, B40, B41, H12, pháo 130 đang băm nát cao điểm Phu Tâng, Phu Tôn, Phu Xeo. Sư đoàn 312 của ta đang vây áp sát quân Thái.

Phía dưới Phu Tâng, cánh đồng Căng Xẻng nơi Đại đội 2 của Tiểu đoàn 7 cũng đang vây ép địch ở Đồi Thông và tại đây anh Đắc đã anh dũng hy sinh cùng bốn chiến sĩ của mình.

Chiến dịch diễn ra với nhiều mũi tấn công bằng hợp đồng binh chủng, pháo binh, xe tăng và bộ binh. Ta đã làm chủ hoàn toàn chiến trường và tổ chức truy đuổi địch tới tận sào huyệt của Vàng Pao ở Long Chẹng. Tới khi bắt đầu mùa mưa, đường tiếp tế gặp nhiều khó khăn, thiếu lương thực đạn dược, các đơn vị buộc phải rút ra Cánh Đồng Chum. Địch cũng củng cố lực lượng tiếp tục nống ra.

Khoảng cuối tháng 8/1972, chiến dịch phòng ngự với quy mô lớn của ta đang bước vào giai đoạn quyết liệt. Địch lợi dụng phi pháo và không quân đánh phá rất mạnh các tuyến phòng thủ của ta, kết hợp trực thăng đổ bộ nhiều binh đoàn (GM, tương đương cấp trung đoàn)đánh chiếm Phu Sản, Phu Bạ, Phu Keng, đồi Năm Mỏm… nhưng chúng đã vấp phải các đơn vị phòng ngự của Trung đoàn 335, Trung đoàn 866 và xe tăng Tiểu đoàn 195… Chúng bị đánh liên tiếp, định rút chạy bằng trực thăng, nhưng hỏa lực của ta đã khống chế nên không thế, buộc chúng phải chạy bộ rút về qua Phu Keng, vượt sông Nậm Ngừm về hướng bản Khổng (khu vực đồi Năm Mỏm, cánh đồng Căng Xẻng…).

Ở chân Phu Keng, Tiểu đoàn 7 đang sẵn sàng đợi lệnh khi trung đoàn cho biết địch đang tháo chạy về phía sông Nậm Ngừm. Tiểu đoàn trưởng Bùi Thanh Điếm cho gọi tôi lên, ông giao cho trinh sát cử một tổ do đích thân tôi chỉ huy ra sông Nậm Ngừm nắm GM23 và GM27 của địch đang tháo chạy để tiểu đoàn có kế hoạch tác chiến.

Ngay sau đó, 6 giờ sáng một ngày cuối tháng 8 trong mưa gió, ba chúng tôi gồm tôi (Nghiễn), Út quê Phú Thọ và Miện đồng hương Thái Bình với tôi xuất phát. Chúng tôi băng rừng, vượt suối trong bốn giờ ướt lạnh dưới mưa, theo hướng sông Nậm Ngừm chảy vào nhánh Nậm Khô. Khoảng 10 giờ thì chúng tôi chạm trán với một bộ phận phía trước đội hình của địch. Toàn bộ 2 GM địch vượt qua sông đêm qua, lực lượng đầu của chúng đang ở một điểm nhiều gò đất và nhiều cây lúp xúp, ngay cạnh đó có một bãi bằng phẳng trực thăng có thể đậu được.

Nói đến chuyện vượt sông của địch, nếu ai ở chiến trường ngày ấy đều nhớ trên quãng sông Nậm Ngừm này có hàng trăm xác địch chết nổi lềnh phềnh trôi dạt dọc sông, bởi đang mùa mưa nước to chảy xiết, khi địch bị ta đánh đã hoảng loạn lao xuống sông bơi trong đêm nên chết đuối hàng loạt.

Chúng tôi và địch đều phát hiện ra nhau ở khoảng cách một trăm mét, địa hình trống trải. Cả ba chúng tôi lợi dụng địa hình những mô đất, bụi cây giãn cách nhau sáu, bảy mét. Ta và địch cùng nổ súng. Tiếng cắc cắc hàng tràng của AR15 cùng tiếng ùng oàng của phóng lựu M79, chúng bắn như vãi đạn về chỗ chúng tôi. Ngay lập tức, tổ trinh sát chúng tôi cũng nổ súng, tiếng AK đanh gọn liên tục điểm xạ đáp trả vào số đông quân địch, bọn chúng không biết chúng tôi chỉ có ba người, vả lại địch đang trên đà rút lui nên không dám tiến lên.Út ở bên phải tôi nổ súng được vài loạt rồi im bặt không thấy bắn nữa, tôi nghe tiếng Út thì thào: “Anh Nghiễn ơi, em bị thương rồi”. Tôi nói Miện cảnh giới bắn yểm trợ để tôi tới chỗ Út. Khi tôi vượt sang nơi Út nằm, địch vẫn bắn về phía chúng tôi. Út bị đạn thẳng một viên vào cánh tay phải, một viên vào đùi, may sao cự ly của đường đạn đã đuối, với lại đạn AR15 phá không mạnh nên vết thương cũng đỡ, nếu như AK47 chắc đạn phá nát cánh tay. Tôi băng bó cho Út và vừa bò vừa kéo Út về phía sau, qua mấy bãi cây và vạt ruộng, tới bản có mấy ngôi nhà lụp xụp ở phía sau dân bỏ hoang đã từ lâu. Tôi giấu Út vào một căn hầm mà quân ta trước đào cỏ đã mọc um tùm, tôi nói: “Chú đưa anh cây súng và cứ nằm ở đây xong anh sẽ quay lại”. Út van nài tôi: “Anh để lại súng cho em, nếu địch đến em vẫn bắn được và nếu có sao em sẽ không để địch bắt”.

Tôi quay lại chỗ Miện thì thấy sườn trái áo của Miện thấm đỏ máu. Thế là trong mười lăm phút đấu súng với số đông hàng mấy chục tên địch, giờ còn mình tôi. Tôi băng bó vết thương cho Miện và vừa bò vừa cúi dìu Miện về phía sau, tới một khe rãnh có bờ chắn cao tôi để Miện nằm đó, vơ cỏ đậy lên người Miện. Miện đưa tôi khẩu súng nói: “Súng hết đạn rồi anh cầm về còn quả lựu đạn em phòng khi bất trắc”. Tôi ngoảnh mặt đi, nước mắt tôi tự nhiên chảy ướt hai khóe, sau tôi trấn tĩnh lại nghĩ may địch bắn như vãi đạn mà tôi không dính, vậy khả năng sống của ba chúng tôi vẫn còn. Tôi quay mặt về phía Miện nói: “Chú cứ ở đây, anh tìm cách bắt liên lạc với đơn vị xong quay lại đón hai chú về”. Tôi khom người vừa bò vừa trườn về phía sau như người không chạm đất, không hiểu sao lúc ấy tôi lại khỏe thế.

Tôi khoác khẩu AK của Miện và cầm khẩu súng của mình tiếp tục chạy băng về phía sau, chạy được một đoạn tôi ngoảnh lại nhìn về phía hai chiến sĩ của tôi bị thương nằm cách địch không xa. Tôi tự nhủ dứt khoát phải bắt liên lạc được với tiểu đoàn để quay lại mang hai em ra. Tôi vừa chạy vừa nghĩ, mình phải sang phía bên kia sông Nậm Khô, tôi biết ở đấy có trạm thông tin hữu tuyến và là nơi gần nhất. Tới sông, tôi không còn biết đói rét là gì, tay giơ súng lên trên đầu lội rồi bơi qua sông. Vào mùa mưa sông Nậm Khô chảy xiết, nhưng khoản bơi lội tôi tương đối giỏi vì tôi quê Thái Bình, ngày ở nhà tôi vẫn bơi trênnhững cánh đồng mùa nước mênh mông. Qua sông lên bờ một đoạn đường, tôi đã gặp đường dây, tôi thầm reo: “Đây rồi”. Tôi lần theo nó và cẩn trọng, bỗng phía trước ở lùm cây có động, tôi hét to: “Không được bắn, quân mình đây, Nghiễn đây”. Mấy anh em thông tin ló đầu ra và một người chạy ra dìu tôi vào vừa đi vừa nói: “Chúng em nhận được thông báo của Trung đoàn hai thằng GM đang chạy về hướng Phu Keng sẽ qua trạm, nên cảnh giác phải cắt cử gác”. Lúc này tôi mới thấm đói và mệt. Trạm thông tin ở đây có bốn anh em, gọi là trạm K2, nơi trung chuyển liên lạc từ Sở chỉ huy Trung đoàn tới Tiểu đoàn 7. Một người trong số ở trạm tôi biết, đó là anh Ngô Ngọc Lai quê Phú Thọ, ở đây anh Lai làm trạm trưởng.

Anh em lấy lương khô bóp vụn trộn với đường hòa nước sền sệt cho tôi ăn. Tôi xúc từng thìa đưa vào miệng, vừa ăn tôi vừa cầm ca sữa Lai hòa cho, ực từng ngụm sữa nóng, người tôi khá lên dần. Vừa ăn tôi vừa nhờ anh Lai liên lạc ngay với tiểu đoàn.

Tôi cầm tổ hợp nói: “A lô, tôi Nghiễn đây, đề nghị tiểu đoàn chi viện, hai chiến sĩ của tôi bị thương vẫn ở gần bờ sông nơi rất đông quân địch”.

Phía đầu dây bên kia nói: “Tiểu đoàn giao cho đồng chí phối hợp với trạm thông tin của đồng chí Lai vào lấy thương binh và bắt liên lạc với Đại đội 1 chi viện khi pháo của ta ngừng bắn, ở đấy đồng chí có quan sát thấy điểm của địch không?”

Tôi trả lời: “Có”.

– “Vậy đồng chí quan sát chỉnh cho đơn vị pháo của mặt trận bắn”

Tôi đáp ngắn gọn: “Rõ!”

Phần chỉnh pháo thì khỏi phải nói vì tôi là trinh sát kế toán của pháo thời huấn luyện, bây giờ mới được thực thi, trạm đã kết nối với đài quan sát của pháo. Tiếng một người ở đài quan sát pháo vọng qua tổ hợp: “Khai hỏa!”

Tiếng nổ đềpa phía xa xa và tiếng đạn 130 rít qua đầu chúng tôi. Một quả nổ, khói bốc mịt mù phía nơi có bản mà ở đấy Út và Miện đangnằm, có quả nổ ngay trên sông. Tôi gọi báo điểm chạm cách địch bao nhiêu, và pháo ta căn bắn liên hồi. Lúc này máy bay trực thăng địch phành phạch bay ra nhằm bốc quân, có tới vài chục chiếc trực thăng và máy bay T28 hộ tống, chúng quần đảo vòng tới tận Phu Keng. Pháo ta nã cấp tập cả một vùng nên trực thăng địch không thể hạ cánh, chúng vút lên cao bay về phía Long Chẹng.

Khi pháo dừng bắn cũng là lúc mặt trời lặn và chúng tôi mất liên lạc hẳn với tiểu đoàn. Lai nói: “Địch đi qua khu vực đường dây, chắc chúng đã cắt rồi”. Bỗng chuông điện thoại ở đầu dây trung đoàn gọi, yêu cầu phải nối lại đường dây ngay. Chúng tôi ăn bữa tối bằng lương khô, ăn xong tôi và hai người vội xách súng và dây dự phòng xuyên màn đêm ra đi, chỉ còn 2 người ở lại để trực trạm. Khi ba người khắc phục được đường dây, chúng tôi quay về trạm bàn phương án sang lấy thương binh và bắt liên lạc với Đại đội 1.

Chúng tôi cũng vẫn ba người đi, sang nơi Út và Miện. Khi tới nơi thấy cả khu đã tan hoang do pháo của ta bắn, tôi phát hiện được anh em Đại đội 1 trong màn đêm khi nghe tiếng khàn khàn của Đại đội trưởng Bính. Chúng tôi gặp nhau trao đổi về tình hình ta và địch, sau đó tổ chức đi tìm Út và Miện. Tôi ra bụi tre chặt tre để làm đòn khiêng.

Về phía địch, chúng đã lợi dụng lúc nhá nhem để cơ động chuyến quân qua chân Phu Keng đi về phía đồi Năm Mỏm. Số địch còn lại chưa đi hết, vẫn ở bên kia. Thấy tiếng chặt cây, chúng bắn sang nơi chúng tôi ngay tức khắc. Anh em Đại đội 1 lúc này cũng bắn trả. Đêm tối mù mịt, trời mưa ngày một to, địa hình do pháo bắn đã xáo trộn. Chúng tôi có đèn pin nhưng không dám soi, dù đèn đã bịt nhỏ bớt chỉ để ánh sáng bằng hạt ngô vì địch quá gần. Chúng tôi chỉ tìm thấy Miện còn Út không tìm ra, tôi đã nghĩ hay Út bị địch bắt. Đại đội trưởng Bính quyết định cho anh em rút về báo cáo tiểu đoàn sáng mai ban ngày tìm tiếp.

Đại đội 1 cho người khiêng Miện về trạm phẫu còn đại đội về bắt liên lạc với tiểu đoàn để đánh vào đội hình địch, hiện Tiểu đoàn lúc này đã xuất quân. Còn tôi và 2 chiến sĩ thông tin trở lại trạm. Hôm sau, tiểu đoàn cho lực lượng vận tải tới bản nơi diễn ra trận đánh, rồi cùng anh em thông tin tìm Út, và đã tìm được. Nơi tôi giấu Út nằm, trướccửa hầm là một hố đạn 130, đất văng bám vào cửa hầm và cây cối do mưa bê bết. Chúng tôi thấy Út vẫn ở trong hầm mà quần áo rách bươm vì sức ép của pháo ta bắn nổ gần ngay cạnh. Anh em vận tải đã đưa Út về trạm phẫu còn tôi cùng hai thông tin trở lại trạm K2. Khi về lại ngồi chuyện trò với nhau, tôi mới biết tên 3 chiến sĩ là Luận, Tuân và Dư.

Tôi chia tay anh em để về tiểu đoàn với bao lưu luyến tình đồng đội đồng chí. Tôi cảm ơn Trạm trưởng Lai và anh em đã phối hợp với tôi, đã tiếp thêm sức mạnh cho tôi. Lai cũng cảm ơn tổ của chúng tôi đã nổ súng chặn địch nên địch không phát hiện được trạm và cảm ơn tôi đã bảo vệ anh em đi sửa nối đường dây, chúng tôi ôm nhau nói lời chia tay và hẹn ngày gặp lại.

Sau những ngày ấy, trung đoàn rút kinh nghiệm tác chiến. Trận mà tổ của tôi cùng pháo đánh, đài kỹ thuật báo ta tiêu diệt 7 tên và hàng chục tên bị thương, làm cho bọn địch đã hoang mang càng hoang mang hơn vì đi tới đâu cũng bị quân ta đánh.

Xét về tiểu đội trinh sát của tôi, tiểu đoàn yêu cầu tôi viết báo cáo thành tích gửi về trung đoàn. Và tôi được tiểu đoàn cử đi dự hội nghị báo công. Ở hội nghị báo công, trong báo cáo tổng kết của hội nghị có nêu tổ của chúng tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, với lòng dũng cảm mưu trí, chủ động tấn công địch, nêu cao tinh thần hợp đồng tác chiến có tính linh hoạt, sáng tạo, giữ trọn tình đồng đội trong thực hiện công tác thương binh lúc nguy nan. Tôi là người của Tiểu đoàn 7 được vinh dự nhận vinh danh “Dũng sĩ diệt Mỹ” và được trao tặng Huân chương Chiến công hạng Ba. Những ngày ở đây thật ấn tượng, tôi cũng được gặp các dũng sĩ đơn vị bạn, được nghe những gương chiến đấu dũng cảm và rất vui được nghe bài ca “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” do hai ca sỹ Bua Lợt và Bua Liên, đoàn văn công Pathét Lào biểu diễn.

Niềm phấn khởi hân hoan lúc bấy giờ lại làm tôi nhớ Thà, Út, Miện và anh em trong tiểu đội của tôi, người mất người còn – những người đã hết mình với nhiệm vụ trinh sát của tiểu đội, để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần nhỏ bé vào chiến thắng quân thù của tiểu đoàn, trung đoàn trong từng trận đánh.Bây giờ và mãi về sau, khi chiến tranh đã lùi xa, chúng tôi luôn tự hào là người lính của Trung đoàn 866 Quân tình nguyện Việt Nam – đơn vị hai lần được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Các trận đánh đã thành ký ức, máu đào của những chiến sĩ tình nguyện đã anh dũng hy sinh góp phần tô đậm thêm những trang sử vẻ vang về tình đoàn kết chiến đấu Việt – Lào. Và chúng tôi nguyện không ngừng vun đắp cho tình hữu nghị đặc biệt của hai dân tộc Việt – Lào đời đời bền vững.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
KÝ ỨC NGƯỜI LÍNH TRINH SÁT | Câu chuyện thời hoa lửa