Bài viết

KÝ ỨC NGƯỜI LÍNH VỊ XUYÊN

Đất nước chiến tranh, Tổ quốc gọi chúng tôi lên đường ra trận và tôi bắt đầu cuộc đời quân ngũ từ đó. Ngày 28/2/1979 tôi nhập ngũ, chúng tôi được biên chế về Tiểu đoàn 2 Trấn Yên, đóng quân và huấn luyện tại xã Báo Đáp (Trấn Yên), tôi được chỉ huy đại đội giao nhiệm vụ làm tiểu đội trưởng. Lúc đó anh Thoảng là chính trị viên đại đội, anh Trừng là đại đội phó, các anh đều là lính tái ngũ, sau 3 tháng huấn luyện, tôi được điều Đại đội 18, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hoàng Liên Sơn, vào tháng 5/1979, đ

Lào Cai02/12/2025Trích hồi ký: Nguyễn Ngọc Tân (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ở hậu phương, kể từ ngày tôi lên đường nhập ngũ, nhà chỉ có một mình vợ tôi. Vào năm 1980 bố tôi bị căn bệnh sơ gan đã qua đời ở tuổi 57, tôi không về được. Khi bố tôi phải nhập viện tôi chỉ được về thăm bố được một lần và phải đến khi 49 ngày tôi mới được về thắp nến hương cho cha. Đến năm 1981 tôi học xong Trường Hạ sỹ quan, ra trường được nghỉ phép ở nhà. Chúng tôi đã sinh bé Thu Hà là niềm vui và động viên rất lớn cho vợ tôi, vì cũng gần 3 năm chúng tôi mới có em bé, đồng thời cũng qua thời gian khó khăn, vợ tôi phải bươn trải lam lũ để kiếm sống, những năm ấy của thập kỷ 80 kinh tế đất nước còn rất khó khăn, chúng tôi học ở trường vị trí đó là tuyến 2 toàn phải ăn bo bo, bột sắn mốc, gia đình thì neo đơn kinh tế khó khăn, song vợ tôi cũng chịu thương chịu khó vẫn đảm bảo cuộc sống. Thỉnh thoảng được về thăm nhà các bác hàng xóm đến chơi ai cũng khen vợ tôi đảm đang, tôi thầm cảm ơn vợ tôi rất nhiều.

Tháng 2/1983 tôi học xong Trường đảng được điều về Sư đoàn 356, xong trước khi về đơn vị tôi được nghỉ phép mấy ngày để ăn tết. Cái tết đó nhà tôi rất vui vì có bé Thu Hà, ông bà ngoại vẫn mạnh khỏe thường xuyên chăm lo cho con cháu, cuộc sống cũng tạm ổn hơn một chút. Tôi cùng Hải khoác ba lô về đơn vị nhận nhiệm vụ. Ở nhà khách sư đoàn gần chục ngày, sau đó Sư đoàn phân tôi về Trung đoàn 153 ở ngay Phố Lu, còn Hải về Trung đoàn 876 ở trên Bến Đền. Tôi được điều về làm chính trị viên Đại đội 3, Tiểu đoàn 4. Sau 2 tháng Trung đoàn điều động tôi sang làm chính trị viên của Đại đội 4 hỏa lực của trung đoàn và chuyển anh Thảo sang Đại đội 3. Trong thời gian này trên biên giới phía Bắc hướng Hà Tuyên rất căng thẳng, đơn vị tôi được nhận nhiệm vụ sang Hà Giang trong tháng 5/1984, đầu tháng 5 anh Chương đại đội trưởng đi cùng chỉ huy Trung đoàn để tiền trạm trước, tôi và anh Hợp đại đội phó cùng đơn vị trong Trung đoàn hành quân sang Hà Giang sau, củng cố đơn vị, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới.

Trên mặt trận Vị Xuyên (5/1984 - 2/1985)

Năm 1984, vào khoảng trung tuần tháng 5, Đại đội tôi nhận được lệnh cơ động sang Hà Giang chiến đấu bảo vệ biên giới. Lúc đó Ban chỉ huy Đại đội gồm có 3 anh em: anh Hoàng Chương quê ở Nghệ An, anh Phạm Tuấn Hợp quê ở Hoài Đức và tôi ở Yên Bái. Khi chúng tôi đi theo đường 7 sang Tuyên Quang và lên Hà Giang, Nhân dân Tuyên Quang, Hà Giang thấy đoàn xe bộ đội hành quân lên phía trước ai nấy đều phấn khởi đón chào rất nồng nhiệt, các cháu học sinh được tặng giấy khen trong buổi tổng kết đã tung lên xe chào đón, có các cụ già bán hàng nước bên đường đã bưng cả mẹt hoa quả bánh kẹo tung lên trên xe cho các chú bộ đội. Chúng tôi mệt nhưng rất vuikhi được đón nhận những tình cảm chân thật của hậu phương thật nồng ấm. Đến gần tối chúng tôi đến Bắc Quang, một huyện lỵ của Hà Tuyên và đóng quân nghỉ lại doanh trại của một đơn vị bộ đội, được anh em đơn vị sang trước chào đón rất vui. Chúng tôi nghỉ lại đẩy một đêm, sáng hôm sau cùng đơn vị hành quân lên thị xã Hà Giang vào đóng quân tại bản Tùy xã Ngọc Đường. Khi hành quân anh em rất phấn khởi đi chiến đấu mà cứ như đi hội vậy. Đường từ thị xã Hà Giang vào Ngọc Đường tôi nhìn thấy có những cây quất hồng bì bắt đầu hung vàng báo hiệu một mùa quả chín, một số anh em ngồi trên xe ngang tầm quả đã vặt để ăn, tôi phải nhắc nhở anh em về công tác dân vận không được làm tổn hại hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ trong lòng nhân dân. Đến bản Tùy chúng tôi chưa liên hệ được với chính quyền, tạm thời chúng tôi đóng tại trường phổ thông trung học, tiểu học của xã Ngọc Đường. Tôi, anh Chương và anh Hợp ở ngôi nhà ngay cổng, cho 2 trung đội vào 2 lớp bên trong. Trưa hôm ấy tôi và anh Hợp mắc võng ở cây phượng và cây bạch đàn nghỉ, anh Chương phải lên trung đoàn để hội ý nhận nhiệm vụ, sau khi liên hệ được với chính quyền và nhân dân xã Ngọc Đường, chúng tôi phân bổ cho các trung đội về ở nhờ trong các nhà dân. Ban chỉ huy đại đội nghỉ tại nhà bác Phong Bí thư Đảng ủy xã. Trong suốt thời gian đó trên biên giới Thanh Thủy vẫn chiến đấu hết sức ác liệt, pháo địch bắn suốt ngày đêm không lúc nào ngớt, các đơn vị bạn chiến đấu cũng tổn thất.Theo lệnh của trung đoàn và tiểu đoàn, để chuẩn bị mở chiến dịch MB-84, lấy Trung đoàn 876 là chủ công đánh 772, 149 phòng ngự ở 468 và đánh 685, Trung đoàn của tôi 153 là thê đội 2 và làm công tác vận tải lương thực, đạn dược, vận chuyển thương binh, liệt sỹ. Đêm đó đại đội tôi được lệnh hành quân tham gia chiến dịch. Xe chở đến làng Pinh anh em chúng tôi hành quân lên điểm cao 812, hôm đó vào ngày 30/6/1984. Buổi sáng trời nhiều mây mù, khoảng gần trưa lúc khoảng 10 - 11 giờ trời bừng nắng mây tan nhanh, tầm quan sát của địch thuận lợi. Cả trung đoàn hành quân trên con đường mòn, lính mệt mỏi lộn xộn dừng chân nghỉ trưa chuẩn bị triển khai công tác hậu cần, anh em dựng tạm lều trại. Đại đội tôi có anh Chương đã tham gia chiến đấu ở Lào, còn tôi chưa từng tham gia, anh em lính tráng toàn tân binh chưa có kinh nghiệm chiến đấu. Tôi còn bảo anh Chương: “không phải đào hầm”, anh Chương bảo: “Không được chủ quan phải đào hố cá nhân anh ạ”. Lúc này tôi bảo cậu liên lạc là Toản xuống khe lấy lá chè đun nước uống, mọi việc chưa đâu vào đâu thì một trận cuồng phong nổi lên. Trên điểm cao 1509 pháo địch bắn cấp tập dội xuống đội hình đóng quân của trung đoàn, trong đó đại đội tôi cũng là tâm điểm của trận tập kích bằng pháo của địch. Nghe đạn pháo địch gầm rít mà nghẹn tim, lộng óc, tôi nằm ở ngay sát mép ta luy đường. Cách đó vài mét một chiến sỹ kêu: “Ôi! em bị thương ồi”, sau ít phút lại chiến sỹ nữa bị thương, cả đại đội chìm trong khói đạn. Đội hình đại đội tôi và cả trung đoàn bắt đầu rối loạn, cả đơn vị đã có hơn chục đồng chí bị thương và hy sinh, đồng chí Đậu Thế Chân, Tham mưu phó Trung đoàn ở làng Pinh, theo lệnh của Trung đoàn trưởng Kiều Công Chức đi ra kiểm tra bộ đội, anh đã bị trúng pháo hy sinh. Ngay tối hôm đó trung đoàn đã chỉ đạo phải tìm vị trí mới để đóng quân bảo toàn lực lượng. Trong đêm tối mù mịt lại phải giữ bí mật, địa hình không biết, chúng tôi phải lần mò trong đêm cực kỳ vất vả, cộng với sự hoang mang buổi trưa bị địch tập kích pháo nên cán bộ, chiến sỹ rất căng thẳng. Tôi bước ra khỏi hàng quân để quan sát, không ngờ dưới đó là thung lũng vực sâu, tôi bị trượt ngã may bám được gốc cây, đầu gối va vào đá sưng tấy đau suốt cả tuần. Lúc này chỉ huy đại đội chỉ còn có 2 anh em, vì bước vào đầu chiến dịch anh Hợp đã được Trung đoàn điều đi tăng cường cho đại đội cối C15, tôi và anh Chương chỉ huy đơn vị, tôi lại đau chân do ngã hôm di chuyển đơn vị nên anh Chương cũng hết sức vất vả. Năm ấy ở Hà Giang lại mưa nhiều thế, đóng quân ở vách đá trong rừng, những cơn mưa rừng sối sả, đào xong hầm che tăng bạt, mưa lớn lại bị sập, dưới khe nước chảy gầm thét. Ngày thì đào, sửa hầm trú ẩn, đêm chúng tôi đi vận tải, không phải nói chắc mọi người đã hiểu việc gian khổ của anh lính vận tải bằng đôi chân và vai trần, đường trơn lầy lội. Tất cả cho biên giới, các trường trung học, bộ đội, dân công đêm đi như hội, cái chết vẫn dình dập, còn gian khổ thì không sao kể hết. Có những chuyến hàng đi từ chiều mà đến gần sáng mới trở về được nơi trú quân. Thương anh em vất vả song vì nhiệm vụ, không biết nói sao chỉ động viên anh em gắng quyết tâm hoàn thành công việc được giao.

Đêm đó đúng đêm 12/7, Tiểu đoàn chỉ thị Đại đội tôi phải cơ động vào khu vực bên trong để chuyển tiếp một số cơ số đạn vào gần chân điểm cao 772. Tôi và anh Chương cùng 2 trung đội xuất phát khoảng 10 giờ tối, đi qua điểm cao 468 nơi anh em 149 đang phòng ngự, lớ ngớ tưởng địch suýt choảng nhau, đường mới trinh sát dẫn đường lạc lung tung, đến khi vượt qua được mấy dông tụt xuống đường lúc đó trinh sát bảo đó là đường tăng, chúng tôi cũng không tìm được kho đạn. Đến khoảng 2-3 giờ sáng một quả pháo sáng bắn lên sáng rực cả khu vực, anh Chương bảo giờ G của chiến dịch MB-84 đã đến. Sau đó các loại hỏa lực của ta và địch thi nhau nổ ầm vang. Chúng tôi cũng rút, kéo nhau lần tìm đường về nơi trú quân, may không có đồng chí nào bị thương vong và suốt những ngày sau đó pháo ta, pháo địch gầm rú gào thét trên bầu trời, Thanh Thủy, Vị Xuyên như một chảo lửa. Suốt ngày hôm sau pháo vẫn gầm vang, cả ta vàđịch đều giành giật quyết liệt. Sau đó một tuần trôi qua tất cả chìm vào yên lặng một cách đáng sợ, trời vẫn mưa sối sả, nước lũ vẫn ào ào. Đêm đó và cũng chẳng biết bao đêm nữa, đại đội tôi được lệnh vào gần chân 772 đưa anh em liệt sỹ đã hy sinh ra làng Pinh để chuyển về phía sau mai táng. Đường đi dốc treo leo, vòng vèo, lầy lội, lại luôn tránh pháo địch, tâm lý anh em chiến sỹ khá lo lắng. Vận tải đi lại nhiều quá, mùa mưa đường ngày càng lầy lội khó đi hơn, sinh hoạt thiếu thốn, thời tiết khắc nghiệt, cán bộ chiến sỹ ốm, sốt rét, bị thương gần hết. Có những hôm phải điều cả mấy đồng chí anh nuôi để đi vận chuyển. Anh em đều là lính mới, khi vào đến chân 772 nhìn thấy một loại đồng chí mình được anh em tuyến trước chuyển ra. Trong đêm tối bên trên là kẻ địch nhăm nhe rình rập, bên dưới chân đồi anh em mình năm đó. Chúng tôi phải đưa cáng vào chuyển anh em ra, đặc biệt là mùi thi thể đã bị phân hủy không làm sao chịu nổi, vừa thương anh em đồng đội rơi nước mắt, vừa cố găng để hoàn thành nhiệm vụ. Giữa cái nắng mùa hè tháng 7 cùng với ẩm ướt của mùa mưa, quân y phát cho khẩu trang, dầu con hổ, anh em quệt cả hộp dầu vào khẩu trang rồi bị vào mũi để át mùi nhưng nóng quá không chịu nổi, chúng tôi lại phải đẩy ra, không chịu được mùi nữa lại phải đẩy vào. Nhiều lần chúng tôi đi từ 6 giờ chiều mà 7 giờ sáng hôm sau mới đưa được đồng đội về tới làng Pinh. Căm thù bọn giặc, song thương cho đồng đội mình, thương cho anh em chiến sỹ của mình, cực kỳ gian lao vất để tìm đưa được một liệt sỹ về với lòng đất ấm của quê mẹ.

Lấy lại 685 và 772

Bước vào chiến dịch mùa khô năm 1985, có thể nói chiến dịch MB-84 không thành công, đại đội chúng tôi sau khi thu dọn chiến trường tạm ổn định. Khoảng đầu tháng 9/1984 đại tôi lại về xã Ngọc Đường ở tại bản Tùy. Lúc này chúng tôi không ở trong nhà dân nữa, toàn bộ Tiểu đoàn 4 trong đó có Đại đội 4 của tôi ra ven núi của bản Tùy dựng doanh trại đóng quân để tổ chức huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Số tân binh còn của đơn vị và được bổ sung thêm, đặc biệt là của các C bộ binh như C1, C2, C3, trong một thời gian rất ngắn, vừa xây dựng doanh trại, vừa củng cố huấn luyện. Sau khi rút từ hang làng Lò, làng Pinh về, đại đội tôi đã có thay đổi chỉ huy, anh Chương được Trung đoàn cử đi học lục quân ở Đà Lạt; anh Hợp ở lại Đại đội 15; Trung đoàn đã điều về anh Tú quê Nam Đàn làm đại đội trưởng; anh Tuân quê Vĩnh Phú làm đại đội phó; còn tôi vẫn làm chính trị viên của đại đội. Chúng tôi huấn luyện theo chỉ định của cấp trên, đại đội tôi chỉ có 2 trung đội chủ yếu là anh em chiến sỹ nhập ngũ tháng 2/1984 quê ở Hưng Yên, Hà Nam Ninh.Vào khoảng trung tuần tháng 12/1984, chúng tôi nhận lệnh lên thay cho các đơn vị bạn để chiến đấu phòng ngự ở điểm cao 685. Để đảm bảo bí mật lần xuấtquân đó, chúng tôi phải hành quân bộ lúc 11 giờ đêm từ bản Tùy, Ngọc Đường lên Thanh Thủy. Tôi nhớ đêm ấy rất rét, chúng tôi lầm lũi hành quân, bản làng Ngọc Đường đang chìm trong giấc ngủ, chúng tôi lặng lẽ lên đường. Vào thời điểm đó chiến tranh ở trên khu vực Thanh Thủy đã rất ác liệt, các đơn vị của ta cũng lần lượt thay quân. Các điểm cao bị quân địch lấn chiếm ngày đêm giao tranh quyết liệt giữa ta và địch, thương vong rất nhiều. Điểm tập kết của đại đội tôi là hang làng Lò, anh Tú và anh Tuân đi trước tôi và anh em hậu cần đi sau. Lúc vượt gác bom, đến ngã ba Thanh Thủy, pháo địch bắn rất ác liệt, những tiếng đạn pháo, cối nổ ùng oàng, những làn đạn lửa thăng căng của ta và của địch đan chéo trên bầu trời, có cảm giác như chúng tôi đang nằm trong chảo lửa. Chúng tôi phải tranh thủ từng giây, từng phút để vượt qua những chỗ nguy hiểm, vì ở ngã ba Thanh Thủy, cầu Sập, Đập Tràn, cửa hang làng Lò và hang Dơi là những trọng điểm bắn ác liệt của địch. Đặc biệt hôm đó khi cả đại đội chia thành từng tốp nhỏ đã đi qua cơ bản an toàn, tôi và một số đồng chí cuối cùng vượt Đập Tràn để chuẩn bị vào hạng làng Lò, đúng lúc qua Đập Tràn thì bị một loạt đạn cối cóc vào ngay phía trước cũng may mà không có đồng chi nào bị thương, tôi và mấy anh em hậu cần ngã dúi dụi xuống nước, cả đơn vị vào đến hang làng Lò trời đã gần sáng. Chúng tôi được tiểu đoàn bố trí làm đại đội vận tải của tiểu đoàn, Đại đội 1, Đại đội 2, Đại đội 3 lên ngay các E của điểm cao 685, Cót Ép là tiểu đoàn bộ và Đại đội 1 ở Tổ chim; Đại đội 3 ở h2, h3. Khoảng cuối tháng 12 địch đánh phá ác liệt, chúng tôi ở trong hang làng Lò, nghe pháo địch rên vang không lúc nào ngớt, tiếng nổ rất chát chúa. Chúng phản kích liên hồi bằng pháo binh và cả bộ binh tiến công điểm cao 685. Vào những ngày trung tuần tháng 1/1985, trong lúc giao tranh ác liệt giữa ta và địch ở các điểm cao, tình hình rất nguy cấp, tưởng chừng thất thủ 685. Trung đoàn đã lệnh cho Đại đội 4 và Đại đội 25 vận tải của trung đoàn, phòng thủ hang làng Lò, chia làm 3 khu vực đồng chí Tú đại đội trưởng chỉ huy khẩu đội 12,7 ly giữ ở phía tầng trên của hang làng Lò; đồng chí Tuân đại đội phó mang một trung đội chốt chặn phía trên cửa hang hướng 685 xuống; tôi chỉ huy toàn bộ anh em hậu cần và lực lượng còn lại của C4 và C25, bảo vệ thương binh hậu cần trong hang, sẵn sàng đánh giáp la cà. Có thể nói lúc đó toàn bộ cán bộ, chiến sỹ trong đơn vị rất căng thẳng, vì trước đó mấy ngày địch đã bắn phá rất ác liệt, hang làng Lò không có nước để dùng. Vì nước ở trong hang chảy từ suối Cụt qua chân 685 và 772 ra đen quánh như nước bồ hóng, khét nẹt, đặc mùi thuốc súng. Đến chiều tối thì tình hình tạm ổn, chúng tiến công điên cuồng nhưng lực lượng phòng ngự của Tiểu đoàn 4, đặc biệt là cán bộ, chiến sỹ của Đại đội 3 đã kiên cường chiến đấu giữ vững được trận địa. Lúc này tư tưởng của một số chiến sỹ trên điểm tựa khá căng thẳng sau những giây phút cam go ác liệt, phía sau Trung đoàn phải lệnh cho đồng chí Tuân đại đội phó lên làm công tác tư tưởng, động viên cán bộ chiến sỹ tiếp tục bám trụ chiến đấu, giữ vững được điểm cao 685 trong những ngày tiếp theo. Có thể nói đó là trận quyết tử của Tiểu đoàn 4, song cũng thương vong tổn thất nhiều cán bộ, chiến sỹ của tiểu đoàn hy sinh, trong đó anh Hùng quê Hà Bắc là Thượng úy trợ lý tác chiến của tiểu đoàn, anh Hà Huy Danh, Thượng uý, Chính trị viên Đại đội 2 bị hy sinh; anh Hoàng Nhân,Đại đội trưởng Đại đội 3 bị cụt một chân và nhiều chiến sỹ nữa đã hy sinh và bị thương. Nhưng từng tấc đất, từng mỏm đã tiểu đoàn đã giữ được. Đó là thành tích rất đáng tự hào trong chiến đấu bảo vệ điểm cao 685 của cán bộ, chiến sỹ Tiểu đoàn 4 chúng tôi. Sau này Tiểu đoàn 4 đã được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân trong tranh bảo vệ biên giới.

Ngay trong thời điểm ác liệt đó, tối ngày 16/01/1985 Đại đội 4 được lệnh của Trung đoàn, tiếp đạn lên 685 và đưa liệt sỹ về, suốt mấy ngày quần đảo, đường đá ngổn ngang, cây cối đổ nát, đất đá sới nhào, chúng dùng cả đạn cháy bắn phá khắp trận địa. Trung đoàn cử một chiến sỹ thông tin dẫn đường, tôi dẫn một trung đội mang lựu đạn, đạn B40, B41 và cáng để đưa liệt sỹ, thương binh xuống. Vào khoảng 11 giờ đêm trời tháng chạp rét cắt da cắt thịt, nhưng trong người vẫn nóng bừng bừng. Ra khỏi cửa hang, trèo qua một vách đá, vừa đến chỗ có vách đá khác thì pháo địch cấp tập dội xuống cửa hang, một cậu tiêu đội trưởng bị thương vào đùi tên là Bản quê ở Thái Bình. Tôi ở giữa pháo nổ đằng trước, đằngsau,anh em rất hoảng sợ, tôi băng bó cho đồng chí Bản; để đồng chí vào một hang đá bên cạnh lại tiếp tục đôn đốc anh em tiến lên điểm cao 685. Khi vượt qua một eo núi xuống một thung lũng, đi qua một bãi bằng đến hang Mán lúc này pháo địch bắn rất giữ dội. Từ cửa hang Mán lên lưng chừng có một đoạn dốc không thể đi được, anh em phải leo bằng dây song, trong đêm tối đen không có phương hướng để đi. Có cậu thông tin dẫn đường thì lạc lối không biết đi về đâu, cậu ta bảo: “Pháo bắn đứt dây thông tin, đất đá lổng cổng không biết tìm đâu ra đường nữa”. Trong khi đó pháo địch bắn càng lúc càng dầy, mà địch lại rất gần, ngay trên đầu, không còn cách nào khác tôi phải ra lệnh cho anh em nấp vào các vách đá để đảm bảo an toàn, sau đó kéo cậu lính thông tin ra để cùng dò đường lên hang Quây và E5 nơi chỉ huy tiểu đoàn đang chốt. Tìm mãi lần mò trong đêm, quờ quạng mãi tôi sờ thấy một xác chết, sau mới phát hiện ra đó là chiến sỹ của C1 vừa mới hy sinh lúc chiều. cũng chỉ một chút nữa là tôi trượt vách đá sa xuống vực, anh Thảo bảo: “Rơi xuống đấy là tan xác đấy”. Cuối cùng chúng tôi cũng đến nơi, khi tôi tìm được vui qua nói hơi to anh Thảo chính trị viên tiểu đoàn nói: “ Địch ngay trên đầu ấy nói nhỏ thôi”. Khi tôi đã tìm được vị trí của tiểu đoàn, bảo đồng chí lính thông tin ra dẫn anh em vào, thực ra từ chỗ ẩn nấp của anh em đến Tiểu đoàn cũng rất gần, nhưng do trời tối, đạn pháo địch phá nát địa hình nên chúng tôi mới mất liên lạc. Anh em lần lượt mang được đạn vào cho Tiểu đoàn, đồng thời đưa đồng chí Hùng và mấy anh em chiến sỹ nữa hy sinh về hang làng Lò. Trên đường đưa thi thể các đồng đội xuống cực kỳ gian lao, đường vừa dốc, đá tai mèo, cây cối pháo bắn đổ ngổn ngang, trời thì tối đen như mực, đi lên đã khổ đi xuống lại càng cực khổ hơn, vì còn chuyển đồng đội không nỡ làm đau đồng chí mình một nần nữa. Cũng có thể nói đó cũng là một kỳ tích không kém gì khi mang xác đồng đội ở điểm cao 772 trong chiến dịch MB-84. Nhưng sự ác liệt thì hơn rất nhiều vì rất sát với địch, pháo lại bắn liên hồi, tôi còn bị một mảnh đạn sượt qua đỉnh đầu máu chảy nhiều nhưng rất may chỉ bị chạm phần mềm. Lúc này vừa căng thẳng, vừa mệt nhọc; đến gần sáng hôm sau chúng tôi cũng về được đến hang làng Lò, may mà không có đồng chí nào hy sinh thêm chỉ xây sát nhẹ. Về đến hang chắc không ai tưởng tượng nổi ngay cửa hang tầng dưới, chỗ trạm phẫu sơ cứu ban đầu của thương binh, không biết từ đâu mà muỗi nhiều như thế, tôi có cảm giác quờ tay vơ được cả nắm. Những con muỗi rừng rất to, đốt buốt thót tim, thật là lạ mùa đông rét như thế, pháo đạn lại bắn nhiều mà sao chúng phát triển mạnh như vậy. Mọi người cũng không thể tưởng tượng nổi cảnh sinh hoạt ngột ngạt đến nghẹn thở ở trong hang làng Lò. Mọi cái ăn ở sinh hoạt cực kỳ thiếu thốn, chủ yếu đồ hộp, thỉnh thoảng có một bữa rau xanh, rau muống dưới cứ mang lên, nhưng chỉ còn mỗi cái cọng vàng và già úa. Cảnh sinh hoạt thì như một chợ phiên rất nhộn nhịp, khó khăn gian khổ là vậy nhưng cũng có những lúc yên ắng mọi người quây quần bên nhau cũng thấy hình như mọi sự bình yên không có điều gì xảy ra. Có một chuyện cũng rất là lạ sau này khi xảy ra rồi tôi nghĩ lại chắc là do linh tính của mỗi người khi căng thẳng thường hay nghĩ. Ngày đó đại đội tôi và Đại đội 2 đóng quân ở gần nhau, khi lên hang làng Lò thì cũng ở chung cùng một chỗ, anh Danh chính trị viên của Đại đội 2 ở bên ngoài tôi một đoạn, đại đội trưởng và đại phó và 3 trung đội đã lên 685 từ mấy hôm trước, anh Danh ở lại hang phụ trách bộ phận phía sau. Hôm đó hậu cần tiểu đoàn có gửi lên một ít cá tươi trong đó có cả cá mè, tối đó anh Danh đến chỗ tôi bảo ăn cá mè là đen lắm, đừng có ăn và anh cũng không ăn thật, tôi thì bảo: “Anh vẽ chuyện làm gì có chuyện ấy tôi vẫn ăn bình thường”, với tâm trạng ấy anh về chỗ ngủ của anh. Đêm hôm đó và ngay hôm sau địch đánh phá ác liệt, anh Danh được tiểu đoàn lệnh tiếp viện chỉ huy một trung đội lên chiến đấu giữ chốt, không ngờ anh lên trên ấy chưa được một ngày một đêm, thì tối hôm đó anh em trên điểm tựa đưa anh về hang làng Lò, toàn thân cháy đen, anh em bảo: “Anh và một số anh em nữa bị trúng một quả đạn cháy của địch”. Tôi thật sự đau lòng, đứng lặng trước thi thể của người bạn, người đông chí mà ngẹn nào, ngẹn ngào xúc động, cũng bởi một lý do rất đặc ngào không sao khóc được mà cũng chẳng nói được lời nào cũng bởi một lý do rất đặc biệt về anh. Ngày đó anh Danh lấy vợ đã 10 năm nhưng chưa sinh được em bé, sau chiến dịch MB-84 anh được Trung đoàn cho nghỉ phép, sau lần đó vài tháng anh nhận được thư của vợ, anh mừng lắm sang khoe với tôi rằng vợ anh đã có bầu, tôi cũng rất mừng cho vợ chồng anh; anh còn bảo: “tôi sẽ mang chiếc chăn chiên đỏ vào bản Mán đổi lấy con dê để liên hoan”. Thực sự thời điểm đó lương sỹ quan rất thấp, mà người dân tộc lại thích chăn đỏ, muốn tổ chức chỉ có cách vậy thôi. Tôi cũng đồng thuận với anh, nhưng ngay hôm sau thì trung đoàn phải nhận lệnh đi chiến đấu, kế hoạch mừng đứa con đầu lòng của anh sau 10 năm khao khát chờ đợi thế là đành gác lại, không thực hiện được và đến hôm nay thì mãi mãi sẽ không thực hiện được nữa. Anh đã vĩnh viễn ra đi, tôi thật đau lòng thương cho đồng đội, càng căm thù bọn giặc, ngậm ngùi nhìn đồng đội ngẹn ngào. Ngày 27/7 năm sau khi đơn vị tôi đã xuống cứ về lại Ngọc Đường, tôi ra nghĩa trang tạm thời của Sư đoàn ngay ngoài thị xã ngôi mộ anh vẫn là một ngôi mộ đất, tôi chỉ biết ôm lấy mộ anh mà nước mắt lưng trào, thương anh, bùi ngùi nghĩ đến người vợ và cháu bé ra đời không biết mặt cha, chiến tranh thật tàn khốc. Hơn 30 mươi năm sau tôi có dịp thăm lại chiến trường xưa, về thăm nghĩa trang Hà Giang nhưng không sao tìm thấy phần mộ của anh ấy. Theo kế hoạch năm đó, Trung đoàn chúng tôi phòng ngự giữ chốt qua tết 1985, xong do trận chiến ác liệt từ tháng 12/1984 đến tháng 1/1985 Trung đoàn chúng tôi không còn đủ quân số để phòng ngự. Trung tuần tháng 2/1985 chúng tôi được lệnh rút về hậu cứ, Trung đoàn 876 vào thay phiên, mọi kế hoạch cho bộ đội đón tết ở điểm tựa đã được Trung đoàn bố trí, khi tôi nhận được lệnh rút về hậu cứ thực sự trong lòng rất mừng, anh em chiến sỹ cũng rất phấn khởi. Ở Trung đoàn 876 tôi có một anh bạn đồng hương tên là Hải làm chính trị viên của Đại đội 12. Đúng ra Hải sẽ ăn tết ở Việt Lâm song phải vào thay đơn vị tôi, gặp nhau trong hang làng Lò đúng là thời khắc lịch sử, vừa mừng vui vừa lo lắng, buồn vui lẫn lộn. Tôi bảo: “Đại đội tao còn gạo, thịt và có cả một ít rau bắp cải tiểu đoàn mới mang lên cho bộ đội chuẩn bị ăn tết, tao cho hết mày đấy”. Bắt tay người bạn người đồng chí để về cứ mà bao nhiêu nỗi niềm khó tả, bâng khuâng. Thực ra chiến tranh cũng không ai biết trước được điều gì. Khoảng 2 giờ đêm hôm đó đại đội tôi rời hang làng Lò, ra đến làng Pinh, nằm lại tối hôm sau mới về thị xã Hà Giang để đảm bảo bí mật. Về đến bản Tùy của xã Ngọc Đường, nhân dân rất vui mừng chào đón chúng tôi, nhưng cũng thực sự buồn vì khi đi cán bộ chiến sỹ đầy đủ, khi về còn được rất ít, đồng bào cứ ôm lấy chúng tôi mà khóc, thật cảm động tình cảm quân dân. Tết nằm đó nhân dân mang bánh trưng, mổ lợn vào cho đơn vị và cùng ăn tết với chúng tôi. Lúc đó xã Ngọc Đường, huyện Vị Xuyên đã thành lập Hội mẹ chiến sỹ để động viên bộ đội, đó là một cái tết Nguyên đán nhớ mãi trong đời tôi.

Rút xuống hậu cứ cơ bản ổn định, song một vấn đề rất khó cho công tác tư tưởng bộ đội, anh em đồng đội hy sinh nhiều, tâm lý cán bộ, chiến sỹ không ổn định, cả Trung đoàn chỉ có Đại đội tôi còn đủ ba anh em chỉ huy, Đại đội 14 cả ba anh chỉ huy đều không còn ở đơn vị, chính trị viên hy sinh, hai anh đại đội trưởng và phó đều bị thương nặng chưa biết nằm ở đâu, cả đại đội chỉ còn có 7 chiến sỹ. Trung đoàn phải cử đồng chí Tuân đại đội phó của tôi về Đại đội 14 để động viên chiến sỹ và tổ chức cho anh em ăn tết. Chiến thắng thật vang dội, tiểu đoàn giữ vững được điểm tựa, bảo vệ được biên cương của Tổ quốc, được Bộ Quốc phòng tuyên dương Tiểu đoàn 4 anh hùng. Song bên cạnh đó là sự hy sinh cao cả của biết bao đồng đội, đã vĩnh viễn ra đi không bao giờ trở lại, tuổi đời của các anh vẫn mãi mãi tuổi 20. Cũng trong năm đó rất nhiều các cơ quan đoàn thể ở các tỉnh, trung ương đã đến thăm hỏi động viên và tặng quà cho cán bộ chiến sỹ chúng tôi. Huyện ủy Vị Xuyên, Tỉnh ủy Hà Tuyên; Báo Quân đội nhân dân; Thông tấn xã Việt Nam; Báo Công an nhân dân...lên thăm và họ viết về những gương chiến đấu dũng cảm hy sinh. Lúc đó tiểu đoàn tôi có đồng chí Lê Huy Khôi, Trung đội trưởng 12,7 ly là tấm gương dũng cảm trong chiến đấu, Bộ công an đã trực tiếp xin đồng chí này về bộ. Đặc biệt chúng tôi còn được đón Đại sứ quán Cu Ba đến thăm hỏi tặng quà và tặng chúng tôi điếu xì gà thơm phức và tăng Tiểu đoàn tôi bức tranh phù điêu bằng đồng, biểu tượng chiếc xe tăng ở Quảng Trị mà Chủ tịch Phi- Đen Ca- xtơ-rô đã cùng bộ đội giải phóng ngồi trên tháp pháo, đó thực sự món quà vô giá để động viên cán bộ, chiến sỹ chúng tôi...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn