Ký ức người ở lại
Bước qua tuổi 74 với 10 năm binh nghiệp đầy oanh liệt, cuộc đời ông là một bản hùng ca gắn liền với ba cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc: chống Mỹ cứu nước, bảo vệ biên giới Tây Nam trước quân tình nguyện Campuchia và cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.

Năm 1970, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở giai đoạn quyết liệt nhất, ông lên đường nhập ngũ và vinh dự được phân vào Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc. Khi ấy, ông là chiến sĩ của Tiểu đoàn 10, đóng quân tại mảnh đất Bình Trị Thiên khói lửa. nhiệm vụ của ông và đồng đội là đảm bảo thông tin liên lạc luôn thông suốt trong mọi tình huống. Dưới làn mưa bom bão đạn, những người lính thông tin chúng tôi vẫn ngày đêm bám máy, bám dây, quyết tâm truyền đạt mệnh lệnh chỉ huy chính xác và kịp thời nhất, góp phần vào những chiến công chung trên dải đất miền Trung nắng cháy.
Năm 1972, khi ông và đồng đội phải hành quân và làm nhiệm vụ qua những khu vực bị Mỹ rải chất độc hóa học. Giữa vùng đất từng là đại ngàn xanh mướt, giờ đây chỉ còn lại những thân cây trơ trụi, khô khốc và bầu không khí nồng nặc mùi hóa chất chết chóc. Là lính thông tin, dù biết nguy hiểm đang bủa vây,ông và đồng đội vẫn phải băng mình qua những 'vùng đất chết' ấy để rải dây, nối máy. Những cơn mưa hóa chất không chỉ tàn phá cảnh quan mà còn thấm vào da thịt, nhưng với tinh thần 'tim có thể ngừng đập nhưng mạch máu thông tin không thể tắc', họ vẫn kiên cường bám trụ, ưu tiên cao nhất cho những bản tin chiến sự được truyền đi thông suốt.
Cuộc đời binh nghiệp lại tiếp tục thử thách lòng quả cảm khi năm 1978, ông nhận lệnh hành quân lên biên giới Tây Nam. Trên cương vị là Phó Đại đội trưởng Đại đội 10, ông cùng đơn vị hành quân dọc theo những con đường bụi đỏ của đất Tây Ninh – nơi cửa ngõ nóng bỏng của cuộc chiến bảo vệ biên giới. Lúc bấy giờ, tình hình vô cùng căng thẳng trước sự đánh phá tàn bạo của quân Khmer Đỏ. Trách nhiệm trên vai người chỉ huy lúc ấy nặng nề hơn bao giờ hết; không chỉ là nhiệm vụ giữ vững mạch máu thông tin trong điều kiện địa hình phức tạp, rừng rậm đầy rẫy phục kích, mà còn là nỗi lo làm sao bảo toàn tính mạng cho anh em đồng đội. Những đêm không ngủ bên bản đồ tác chiến và những chuyến băng rừng đi sát thực địa tại Tây Ninh đã trở thành một phần máu thịt trong ký ức về cuộc chiến đấu chính nghĩa bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.
Vừa rời chiến trường Tây Nam chưa lâu, đến tháng 8 năm 1978, ông lại nhận lệnh hành quân ngược ra Bắc để đối mặt với thử thách mới tại biên giới Việt - Trung. Lúc này, với kinh nghiệm dày dạn, ông được phân công giữ chức Trợ lý Thông tin của Trung đoàn 457. Đơn vị hành quân lên Hà Giang – mảnh đất sừng sững những núi đá tai mèo sắc lẹm và vực sâu thăm thẳm. Nhiệm vụ trọng tâm của ông là trực tiếp tham mưu và tổ chức mạng lưới thông tin liên lạc tại điểm nóng cửa khẩu Thanh Thủy. Giữa không khí căng thẳng trước giờ súng nổ, những người lính thông tin Trung đoàn 457 vẫn kiên cường bám trụ trên các điểm cao, canh giữ từng tấc đất biên cương. Với ông và đồng đội lúc ấy, Thanh Thủy không chỉ là một địa danh, mà là biểu tượng của ý chí thép, nơi mỗi bản tin truyền đi đều mang theo lời thề bảo vệ vẹn nguyên bờ cõi Tổ quốc.
Sau mười năm dấn thân qua khắp các chiến trường khốc liệt, đến năm 1980, ông chính thức được quay trở về với gia đình. Bước chân về lại mái nhà xưa giữa thời bình, cảm xúc thật khó tả, vừa hạnh phúc svừa bồi hồi nhớ về những đồng đội đã nằm lại chiến trường. Thế nhưng, hòa bình lập lại không có nghĩa là cuộc chiến trong ông đã chấm dứt hoàn toàn. Những năm tháng băng mình qua vùng đất chết ở Bình Trị Thiên năm 1972 đã để lại dấu ấn nghiệt ngã: ông mang trong mình di chứng của chất độc da cam. Căn bệnh quái ác ấy như một 'vết sẹo' không da liền, âm thầm nhắc nhở về cái giá của độc lập, tự do. Dẫu cơ thể có yếu đi vì bệnh tật, nhưng tinh thần của người lính Bộ Tư lệnh Thông tin năm xưa vẫn luôn vững vàng, coi đó là một phần hy sinh xương máu mà mình dành cho mảnh đất hình chữ S thân yêu
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.


