KÝ ỨC NGƯỜI Ở LẠI
Có những con người dù ta chưa từng gặp mặt, chưa từng được nghe một lời nói hay nắm lấy bàn tay, nhưng vẫn sống mãi trong ký ức gia đình như chưa từng rời xa. Với tôi, người ấy là bác cả – liệt sĩ Vũ Xuân Hặc.
Tôi sinh ra khi chiến tranh đã lùi rất xa. Những năm tháng bom đạn chỉ còn lại trong sách vở, trong những bộ phim cũ hay qua lời kể của ông bà, cha mẹ. Thế nhưng trong gia đình tôi, chiến tranh chưa bao giờ thật sự kết thúc. Bởi ở đó vẫn còn một khoảng trống mà suốt mấy chục năm qua không ai có thể lấp đầy – khoảng trống mang tên bác Hặc.
Tuổi thơ tôi gắn liền với những buổi sáng tháng Bảy lành lạnh. Cứ đến ngày 27 tháng 7, khi trời còn chưa sáng rõ, bà nội lại lặng lẽ dậy từ rất sớm. Bà chuẩn bị một đĩa xôi trắng, một con gà luộc, vài chiếc bánh chưng dài không nhân cùng bó hương thơm rồi cùng bố và các bác đi xuống nghĩa trang liệt sĩ.
Ngày ấy tôi còn nhỏ, chỉ nghĩ người lớn đi đâu đó rất xa và rất quan trọng. Tôi từng thắc mắc vì sao không ai cho chúng tôi đi cùng. Mãi sau này tôi mới hiểu, ở nơi ấy có ngôi mộ di vật của bác cả tôi – người thanh niên đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường khi tuổi đời còn chưa đầy hai mươi lăm.
Qua lời kể của bố và các bác, hình ảnh về bác dần hiện lên trong tâm trí tôi như một đoạn hồi ức vừa xa xăm vừa gần gũi.
Bác sinh năm 1945 tại Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn cũ. Năm 1964, khi đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, bác gác lại mối tình vừa dạm ngõ được ba tháng để lên đường nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện tại Tú Lệ, bác được điều về Trung đoàn 148 thuộc Sư đoàn 316, chiến đấu tại mặt trận Thượng Lào trong đơn vị pháo cao xạ.
Những lá thư bác gửi về không nhiều, nhưng mỗi dòng chữ đều thấm đẫm tình thương dành cho gia đình.
Bố tôi thường kể rằng bà nội rất thương bác. Trong số những người con của bà, bác là người đẹp trai nhất. Bà bảo bác có má lúm đồng tiền rất sâu, mỗi lần cười gương mặt sáng bừng lên. Mỗi khi nhìn chị cả tôi, bà lại bảo:
“Con bé này giống thằng Hặc nhất.”
Có lẽ vì quá nhớ thương nên bà luôn cố giữ lại hình bóng người con trai cả trong từng nét mặt của con cháu sau này.
Khi còn nhỏ, mỗi lần sang nhà bà chơi, tôi thường thấy bà ngồi lặng lẽ vuốt ve một tấm ảnh cũ đã sờn mép. Tấm ảnh bạc màu theo năm tháng, nhưng bà luôn nâng niu như báu vật. Mỗi lần nhìn bức ảnh ấy, lưng bà dường như còng xuống hơn.
Sau này tôi mới biết, đó là bức ảnh duy nhất của bác còn giữ lại được.
Trong ảnh là một chàng trai trẻ với ánh mắt hiền và nụ cười rất sáng. Trước lúc qua đời, bà vẫn dặn đi dặn lại rằng phải để bức ảnh ấy bên cạnh bà, để bà mang theo về với đất mẹ.
Có lẽ suốt cả cuộc đời, bà chưa từng thôi nhớ người con trai đầu lòng của mình. Bà nội từng nghẹn ngào kể lại lời bác trong thư: “Nó bảo ở trong hầm cùng đồng đội, khốc liệt lắm… Mấy chục người đi cùng quê mình mà đã hy sinh mất mười hai người rồi…” Mỗi lần nhắc lại, mắt bà lại đỏ hoe.
Trong lá thư cuối cùng, bác dặn các em phải thay bác chăm sóc cha mẹ, nhất là ông nội, bởi mắt ông đã không còn nhìn thấy, phải đỡ đần mẹ chăm em út, vì mẹ là trụ cột, vì em còn quá nhỏ. Bác còn dặn riêng cho người con gái mà bác yêu, đừng nên chờ bác, hãy tìm ai đó tốt và lập gia đình, bác không muốn lỡ dở một đời con gái người ta. Nếu có một ngày bác không trở về, bố mẹ và các em hãy lập cho bác một ngôi mộ gió để bác có nơi đi về. Khi ấy cô út mới chỉ ba tuổi. Không ai ngờ rằng những lời đó lại trở thành những lời từ biệt.
Năm 1969, sau nhiều tháng bặt vô âm tín, gia đình tôi nhận được giấy báo tử. Trong trận chiến tại cao nguyên Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, bom Mỹ đã đánh trúng công sự nơi bác cùng đồng đội chiến đấu. Tất cả đều hy sinh.
Người đồng đội trở về kể rằng có chiến sĩ chỉ còn lại một bàn tay vẫn nắm chặt khẩu pháo. Còn bác tôi… không còn lại chút gì nguyên vẹn.
Những di vật gửi về chỉ còn một bộ quần áo, một chiếc lược nhỏ và chiếc vỏ bút máy được mài từ vỏ đạn.
Tôi không thể tưởng tượng được nỗi đau ngày hôm ấy lớn đến nhường nào. Bố tôi kể hôm ấy bà nội ôm chặt bộ quần áo của bác mà khóc suốt đêm. Ông nội tôi vốn bị mù, đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng nhưng nước mắt vẫn lặng lẽ chảy dài trên khuôn mặt khắc khổ.
Ngày hôm sau, bác Hai tôi xin nghỉ phép từ đơn vị trên Than Uyên đi về cùng với gia đình lập cho bác một ngôi mộ bằng chính những di vật còn sót lại ấy.
Điều khiến tôi day dứt nhất là bác cả tôi đã ra đi khi tuổi xuân còn quá trẻ. Bác chưa kịp trở về, chưa kịp cưới người con gái mình thương, chưa kịp sống một cuộc đời bình dị như bao người khác. Tuổi đôi mươi của bác mãi mãi dừng lại nơi chiến trường xa xôi.
Nhiều năm sau, trước lúc qua đời, bà nội gọi các con lại rồi nói trong sự thanh thản: “Thằng Hặc nó về thăm mẹ rồi. Nó cười vui lắm. Nó bảo ở đó có đồng đội, không phải lo cho nó đâu, …”
Bố tôi bảo lúc ấy bà mỉm cười rất hiền rồi nhẹ nhàng nhắm mắt. Bà ra đi mà trong tay vẫn nắm chặt bức ảnh cuối cùng của bác. Có lẽ đến tận giây phút cuối cùng, bà mới thật sự yên lòng.
Hôm nay, dù ông bà đã đi xa, gia đình tôi vẫn giữ nguyên thói quen cũ. Mỗi dịp 27 tháng 7, chúng tôi lại mang xôi gà, bánh chưng dài không nhân xuống nghĩa trang liệt sĩ để thắp cho bác một nén hương.
Giữa làn khói hương bảng lảng, tôi thường đứng rất lâu trước bia mộ và tự hỏi: nếu bác còn sống, bác sẽ ngồi kể cho con cháu nghe về những năm tháng chiến tranh, Bác sẽ ngồi cười hiền bên mâm cơm gia đình trong những chiều bình yên. Nhưng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra vì chiến tranh đã mang bác đi mãi mãi.
Dẫu chưa từng một lần gặp mặt, trong lòng tôi, bác Vũ Xuân Hặc vẫn luôn hiện hữu bằng một niềm biết ơn sâu sắc và thiêng liêng. Bởi sự hy sinh của bác và biết bao người lính năm xưa đã đổi lấy hòa bình cho những thế hệ hôm nay. Có những người đã nằm xuống, nhưng ký ức về họ sẽ không bao giờ mất đi.
Và với gia đình tôi, bác Hặc mãi mãi là nỗi nhớ thương không thể phai mờ trong ký ức của những người ở lại.



