Ký ức Tây Nguyên
Lần đầu tôi gặp Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp là năm 1999. Khi đó, tôi cùng mấy đồng chí đến xin ý kiến về tài liệu “Điệp báo trong Mặt trận Tây Nguyên (1975)”. Năm 2002, lần thứ hai tôi đến xin ông góp ý về tài liệu “Văn hóa Tây Nguyên trong tình báo quân sự”.
Lần thứ hai này, tôi đi cùng Đại tá, nhà văn Lê Hải Triều, nguyên Chính ủy Trung đoàn 24, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 (nay là Quân đoàn 34), bấy giờ là cán bộ Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Lê Hải Triều là người chấp bút hồi ký nổi tiếng “Ký ức Tây Nguyên” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, năm 2000) của Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp.
Sau những lần tiếp xúc ấy, chúng tôi được thêm nhiều bài học từ vị tướng già tinh tế, lịch lãm, dày dạn trận mạc, hiểu biết sâu sắc lý luận chính trị, nắm bắt bản chất vấn đề của nhiều hiện tượng ở các lĩnh vực văn hóa, quân sự, chính trị. Biết ông giỏi tiếng Nga, Trung, Pháp, dù đã chuẩn bị kỹ lưỡng nhưng chúng tôi vẫn bị lúng túng, bởi không chỉ giàu có vốn từ giao tiếp, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp còn nắm rất chắc các khái niệm chuyên ngành. Về đơn vị “mổ băng” ghi âm, chúng tôi mới thấu nghĩa...
Đồng chí Đặng Vũ Hiệp sinh năm 1928, quê ở xã Việt Hưng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Năm 1945, đang học trung học ở Hà Nội, Đặng Vũ Hiệp hăng hái tham gia cách mạng. Năm 1946, ông vào Quân đội và được kết nạp Đảng ít tháng sau đó. Ông lần lượt công tác ở Trung đoàn 23 (Khu 1), Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308). Sau năm 1954, ông là Phụ trách Chính ủy Trung đoàn 86 (Sư đoàn 675 Pháo cao xạ). Tháng 8-1956, ông đi học tại Liên Xô. Tháng 9-1964, đi chiến trường, ông giữ chức Phó chủ nhiệm Chính trị Quân khu 5. Hơn 10 năm chiến đấu chủ yếu trên địa bàn Tây Nguyên, ông tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch có ý nghĩa chiến lược và trải qua các chức vụ: Chủ nhiệm Chính trị, rồi Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên, Chính ủy Chiến dịch Tây Nguyên, Chính ủy Quân đoàn 3...
Trải nghiệm ở vị trí chỉ huy trên chiến trường và sau đó là thời gian dài suy ngẫm, phân tích các sự kiện, ông đúc kết và ghi trong hồi ký đặc sắc “Ký ức Tây Nguyên”. Không chỉ là sự kiện, tư liệu, tác phẩm còn đầy ý vị văn chương, là tấm lòng của người lính với nhân dân, đất nước và của người chỉ huy với bộ đội. Hồi ký là sự hòa quyện chặt chẽ giữa tư liệu lịch sử, tư duy quân sự và chiều sâu nhân văn. Lời giới thiệu của Đại tướng Chu Huy Mân ngắn gọn nhưng nêu bật ý nghĩa, giá trị cuốn sách quý: “Đọc “Ký ức Tây Nguyên”, những ai đã từng sống, chiến đấu ở chiến trường gian khổ này và cả những ai chưa từng đến Tây Nguyên đều có thể hình dung được những năm tháng cực kỳ gian nan nhưng rất hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân Tây Nguyên; rất cụ thể nhưng đạt được ý lớn đánh bạt tư tưởng sợ Mỹ... đồng thời làm nổi bật quan điểm quần chúng nhân dân là lực lượng chủ yếu làm nên lịch sử”.
Thông qua ký ức của một người chỉ huy, hồi ký hiện lên với những trang lịch sử-tư liệu sống động nhất, vừa ở tầm chiến lược, vĩ mô vừa ở những chi tiết cụ thể, rất mực đời thường, được chắt lọc, lắng lại để nói lên những ý nghĩa mang tính bản chất. Ở hồi ký này là sự nhận thức về thời cơ lịch sử, tạo bàn đạp chiến lược để quyết định cục diện chiến tranh, từ đó, quân ta quyết tâm giải phóng Tây Nguyên. Do vị trí đặc biệt, Mỹ tung đơn vị tinh nhuệ nhất lên chiếm đóng Tây Nguyên. So với quân địch, “lực lượng ta ít hơn địch cả về quân số và trang bị, vũ khí”. Nhưng “Quân ủy Trung ương đặt niềm tin rất lớn vào quân và dân Tây Nguyên”, vì “ta thắng Mỹ trận này sẽ có ý nghĩa không những về quân sự mà cả về chính trị...”.



