Khác

Ký ức Tây Nguyên

Cuốn KÝ ỨC TÂY NGUYÊN của Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp - nguyên Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên, Chính ủy Quân đoàn 3 là cuốn sách phản ánh khá đầy đủ, khách quan những sự kiện chính diễn ra từ khi Mặt trận Tây Nguyên được thành lập đến mùa Xuân năm 1975 đại thắng, một cuốn sách khắc họa rõ nét tập thể cán bộ, chiến sĩ và người dân Tây Nguyên thông qua những hành động anh hùng và những phẩm chất tốt đẹp của họ, được thể hiện trong cuộc chiến tranh kiên trì, có nhiều sáng tạo. Đọc KÝ ỨC TÂY NGUYÊN, nh

Lai Châu02/07/2026Quân đội nhân dân (xã sìn hồ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng Tây Nguyên, có nhà báo đặt cho tôi câu hỏi: “Nói về những gì xảy ra ở Tây Nguyên mùa Xuân năm 1975 có lẽ trước hết phải nói đến trận Buôn Ma Thuột?”. Tôi trả lời: “Trước hết phải nói tới những gì đã xảy ra trên cao nguyên này từ nhiều năm trước. Phải nói tới cái nhìn đúng đắn, xa rộng của Đảng ta khi đánh giá địa bàn chiến lược Tây Nguyên và đã âm thầm xây dựng cơ sở cách mạng cũng như xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên từ những ngày còn mỏng manh nhất, gian khổ nhất đến khi hình thành một lực lượng đủ mạnh để có thể giải quyết những vấn đề chiến thuật và chiến dịch ở Tây Nguyên; trên cơ sở đó tạo ra thế chiến lược cho Tây Nguyên để rồi từ Tây Nguyên chúng ta bắt đầu cuộc tổng tiến công chiến lược mùa Xuân năm 1975”.

Chiến thắng Buôn Ma Thuột mãi mãi là một dấu son trên trang sử vẻ vang của quân đội ta nhưng nó không phải là trước hết mà là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài của quân và dân Tây Nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chiến thắng Buôn Ma Thuột là kết quả của 30 năm chiến đấu gian khổ của quân và dân Tây Nguyên, đặc biệt trong 15 năm kể từ năm 1960, khi tiểu đoàn chủ lực đầu tiên từ miền Bắc trở về cùng đồng bào xây dựng căn cứ mở đường giao liên.

Có thể nói trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tây Nguyên là nơi diễn ra nhiều cuộc chiến đấu ác liệt giữa ta và địch. Bởi Mỹ đánh giá địa bàn Tây Nguyên rất quan trọng, chúng cho rằng: muốn chiến thắng ở miền Nam Việt Nam thì phải kiểm soát được vùng cao nguyên trung phần Đông Dương. Vì thế chúng đã biến Tây Nguyên thành một căn cứ chiến lược lớn và đặt sở chỉ huy quân khu II và quân đoàn II của quân ngụy tại Plây Cu. Riêng Mỹ đã bố trí ở địa bàn này 2 sư đoàn (sư đoàn kỵ binh không vận 1 ở An Khê, sư đoàn bộ binh 4 ở Hòn Rồng thuộc tỉnh Gia Lai). Dọc đường 14 từ phía bắc tới phía nam cũng như dọc đường 19 đường 21 từ phía đông sang phía tây Tây Nguyên là một hệ thống cứ điểm dày đặc, trong đó có những căn cứ lớn cấp quân đoàn, sư đoàn; cũng phải kể đến nhiều cứ điểm ở dọc biên giới Việt Nam — Lào, Việt Nam — Cam-pu-chia do các tiểu đoàn biệt kích chiếm giữ. Hệ thống phòng ngự trên đường 14 khá vững chắc, là tuyến phòng ngự cơ bản, là nòng cốt cho toàn bộ hệ thống phòng thủ trên Tây Nguyên của địch. Ngoài ra ở Tây Nguyên địch còn có các căn cứ không quân khá mạnh với nhiều đơn vị pháo binh, xe tăng, thiết giáp và hàng chục đơn vị biệt, động quân tạo thành lực lượng tác chiến binh chủng hợp thành rất mạnh.

Thế nhưng sau nhiều năm chiến đấu, quân và dân ta đã đánh cho quân địch ở Tây Nguyên nhiều đòn đau và đã từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng và thế trận trên chiến trường, vùng giải phóng ngày càng mở rộng, liên hoàn hoàn chỉnh tạo thế ngày càng có lợi cho ta. Đến năm 1974, mặc dù địch ở Tây Nguyên còn quân số khá lớn, trang bị vũ khí có được tăng cường hơn, nhưng tinh thần binh lính địch đã suy sụp rất rõ rệt, do quân Mỹ đã phải rút ra khỏi miền Nam theo Hiệp định Pa-ri làm cho quân ngụy mất chỗ dựa. Chúng phải co về phòng thủ các thị xã, quận lỵ ven các trục đường giao thông chiến lược. Trong tình thế mới, ta hoàn toàn có thể thực hiện quyết tâm “đánh cho ngụy nhào”. Bộ Chính trị đã chọn Tây Nguyên là hướng chủ yếu mở đầu cuộc Tổng tiến công chiến lược và quân dân Tây Nguyên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đó.

Chiến công của các đơn vị quân đội làm nên chiến thắng lịch sử này đã và sẽ còn được nói tới. Nhưng chúng ta không thể không nhắc tới sự đóng góp trên nhiều mặt của lớp lớp cán bộ chiến sĩ gồm hàng chục vạn người, trong đó gần ba vạn liệt sĩ, trong hàng chục năm ròng với biết bao gian khổ, hy sinh. Chúng ta càng không thể không nhắc tới công lao của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Nếu chúng ta đều biết tới hình ảnh từng đoàn dân công gồm cả người già, phụ nữ và trẻ em của các buôn làng Tây Nguyên đã đi gùi gạo, gùi đạn tiếp tế cho bộ đội; nếu chúng ta biết tới những đồng chí cán bộ của Đảng đã từng cà răng căng tai, sống hàng vài chục năm với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên để bám dân, bám đất xây dựng địa bàn, xây dựng chỗ cho chúng ta đứng chân mà đánh giặc; nếu chúng ta biết rằng trước, khi chúng ta có xe pháo mở những trận đánh lớn như vậy đã có hàng ngàn đồng chí đi trước mở đường chiến lược vận chuyển Bắc - Nam, mở địa bàn, giành đi giật lại với địch từng tấc đất trong điều kiện đói cơm rách áo, thiếu thuốc men, thiếu vũ khí kéo dài hàng chục năm ròng... để hôm nay chúng ta có quân hùng tướng mạnh mà đánh giặc với thế mạnh như chẻ tre...; nếu chúng ta biết một cách đầy đủ tất cả những gì đã diễn ra trước khi có trận Buôn Ma Thuột, có mùa Xuân cao nguyên năm 1975, thì chúng ta càng thấy tự hào hơn về Đảng ta, nhân dân ta và quân đội ta.

Từ khá lâu, tôi đã có ý định ghi chép lại một điều gi đó về những năm tháng đã qua trong thời chống Mỹ, về cuộc đời mình và đồng đội. Một sự kiện thôi thúc tôi viết kỷ niệm về Tây Nguyên là hạ tuần tháng 6 năm 1997 tôi được mời tham dự hội thảo “Nhìn lại cuộc chiến tranh Việt Mỹ - Những cơ hội bị bỏ lỡ”. Đây là cuộc hội thảo giữa các nhà cựu ngoại giao, các tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam với các nhà học giả Mỹ do ông Mac Na-ma-ra, cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ dẫn đầu nhằm tìm ra những nguyên nhân chủ chốt đã gây ra cuộc chiến tranh, tìm hiểu xem liệu có những cơ hội nào đã bị bỏ lỡ để có thể sớm chấm dứt cuộc chiến tranh đó hay không và rút ra những bài học để thế hệ mai sau có thể tránh những thảm kịch trong tương lai. Trong cuộc hội thảo này hai bên đã trình bày nhận thức quan điểm của mình và tranh luận sòng phẳng. Trong nhiều vấn đề được đặt ra, thì vấn đề sự kiện ngày 6 tháng 2 năm 1965 ở Plây Cu (ta tấn công sân bay Hô-lô-uây) cũng gây nhiều tranh cãi. Sang ngày thứ hai của cuộc hội thảo, tôi đang chăm chú theo dõi cuộc tranh luận về các cơ hội bị bỏ lỡ do đó mà xảy ra chiến tranh (theo quan điểm của phía Mỹ) thì Chi-stơ Cu-pơ hỏi tôi:

- Thưa tướng Hiệp, ngài suy nghĩ gì về cuộc tấn công vào quân Mỹ ở Plây Cu đầu năm 1965 ?

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn