TỪ MỘT CUỘC HỘI THẢO Kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng Tây Nguyên, có nhà báo đặt cho tôi câu hỏi: “Nói về những gì xảy ra ở Tây Nguyên mùa Xuân năm 1975 có lẽ trước hết phải nói đến trận Buôn Ma Thuột?”. Tôi trả lời: “Trước hết phải nói tới những gì đã xảy ra trên cao nguyên này từ nhiều năm trước. Phải nói tới cái nhìn đúng đắn, xa rộng của Đảng ta khi đánh giá địa bàn chiến lược Tây Nguyên và đã âm thầm xây dựng cơ sở cách mạng cũng như xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên từ những ngày còn mỏng manh nhất, gian khổ nhất đến khi hình thành một lực lượng đủ mạnh để có thể giải quyết những vấn đề chiến thuật và chiến dịch ở Tây Nguyên; trên cơ sở đó tạo ra thế chiến lược cho Tây Nguyên để rồi từ Tây Nguyên chúng ta bắt đầu cuộc tổng tiến công chiến lược mùa Xuân năm 1975”.
Chiến thắng Buôn Ma Thuột mãi mãi là một dấu son trên trang sử vẻ vang của quân đội ta nhưng nó không phải là trước hết mà là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài của quân và dân Tây Nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chiến thắng Buôn Ma Thuột là kết quả của 30 năm chiến đấu gian khổ của quân và dân Tây Nguyên, đặc biệt trong 15 năm kể từ năm 1960, khi tiểu đoàn chủ lực đầu tiên từ miền Bắc trở về cùng đồng bào xây dựng căn cứ mở đường giao liên.
Có thể nói trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tây Nguyên là nơi diễn ra nhiều cuộc chiến đấu ác liệt giữa ta và địch. Bởi Mỹ đánh giá địa bàn Tây Nguyên rất quan trọng, chúng cho rằng: muốn chiến thắng ở miền Nam Việt Nam thì phải kiểm soát được vùng cao nguyên trung phần Đông Dương. Vì thế chúng đã biến Tây Nguyên thành một căn cứ chiến lược lớn và đặt sở chỉ huy quân khu II và quân đoàn II của quân ngụy tại Plây Cu. Riêng Mỹ đã bố trí ở địa bàn này 2 sư đoàn (sư đoàn kỵ binh không vận 1 ở An Khê, sư đoàn bộ binh 4 ở Hòn Rồng thuộc tỉnh Gia Lai). Dọc đường 14 từ phía bắc tới phía nam cũng như dọc đường 19 đường 21 từ phía đông sang phía tây Tây Nguyên là một hệ thống cứ điểm dày đặc, trong đó có những căn cứ lớn cấp quân đoàn, sư đoàn; cũng phải kể đến nhiều cứ điểm ở dọc biên giới Việt Nam — Lào, Việt Nam — Cam-pu-chia do các tiểu đoàn biệt kích chiếm giữ. Hệ thống phòng ngự trên đường 14 khá vững chắc, là tuyến phòng ngự cơ bản, là nòng cốt cho toàn bộ hệ thống phòng thủ trên Tây Nguyên của địch. Ngoài ra ở Tây Nguyên địch còn có các căn cứ không quân khá mạnh với nhiều đơn vị pháo binh, xe tăng, thiết giáp và hàng chục đơn vị biệt, động quân tạo thành lực lượng tác chiến binh chủng hợp thành rất mạnh.
Thế nhưng sau nhiều năm chiến đấu, quân và dân ta đã đánh cho quân địch ở Tây Nguyên nhiều đòn đau và đã từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng và thế trận trên chiến trường, vùng giải phóng ngày càng mở rộng, liên hoàn hoàn chỉnh tạo thế ngày càng có lợi cho ta. Đến năm 1974, mặc dù địch ở Tây Nguyên còn quân số khá lớn, trang bị vũ khí có được tăng cường hơn, nhưng tinh thần binh lính địch đã suy sụp rất rõ rệt, do quân Mỹ đã phải rút ra khỏi miền Nam theo Hiệp định Pa-ri làm cho quân ngụy mất chỗ dựa. Chúng phải co về phòng thủ các thị xã, quận lỵ ven các trục đường giao thông chiến lược. Trong tình thế mới, ta hoàn toàn có thể thực hiện quyết tâm “đánh cho ngụy nhào”. Bộ Chính trị đã chọn Tây Nguyên là hướng chủ yếu mở đầu cuộc Tổng tiến công chiến lược và quân dân Tây Nguyên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đó. Chiến công của các đơn vị quân đội làm nên chiến thắng lịch sử này đã và sẽ còn được nói tới. Nhưng chúng ta không thể không nhắc tới sự đóng góp trên nhiều mặt của lớp lớp cán bộ chiến sĩ gồm hàng chục vạn người, trong đó gần ba vạn liệt sĩ, trong hàng chục năm ròng với biết bao gian khổ, hy sinh. Chúng ta càng không thể không nhắc tới công lao của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Nếu chúng ta đều biết tới hình ảnh từng đoàn dân công gồm cả người già, phụ nữ và trẻ em của các buôn làng Tây Nguyên đã đi gùi gạo, gùi đạn tiếp tế cho bộ đội; nếu chúng ta biết tới những đồng chí cán bộ của Đảng đã từng cà răng căng tai, sống hàng vài chục năm với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên để bám dân, bám đất xây dựng địa bàn, xây dựng chỗ cho chúng ta đứng chân mà đánh giặc; nếu chúng ta biết rằng trước, khi chúng ta có xe pháo mở những trận đánh lớn như vậy đã có hàng ngàn đồng chí đi trước mở đường chiến lược vận chuyển Bắc - Nam, mở địa bàn, giành đi giật lại với địch từng tấc đất trong điều kiện đói cơm rách áo, thiếu thuốc men, thiếu vũ khí kéo dài hàng chục năm ròng... để hôm nay chúng ta có quân hùng tướng mạnh mà đánh giặc với thế mạnh như chẻ tre...; nếu chúng ta biết một cách đầy đủ tất cả những gì đã diễn ra trước khi có trận Buôn Ma Thuột, có mùa Xuân cao nguyên năm 1975, thì chúng ta càng thấy tự hào hơn về Đảng ta, nhân dân ta và quân đội ta.
Từ khá lâu, tôi đã có ý định ghi chép lại một điều gi đó về những năm tháng đã qua trong thời chống Mỹ, về cuộc đời mình và đồng đội. Một sự kiện thôi thúc tôi viết kỷ niệm về Tây Nguyên là hạ tuần tháng 6 năm 1997 tôi được mời tham dự hội thảo “Nhìn lại cuộc chiến tranh Việt Mỹ - Những cơ hội bị bỏ lỡ”. Đây là cuộc hội thảo giữa các nhà cựu ngoại giao, các tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam với các nhà học giả Mỹ do ông Mac Na-ma-ra, cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ dẫn đầu nhằm tìm ra những nguyên nhân chủ chốt đã gây ra cuộc chiến tranh, tìm hiểu xem liệu có những cơ hội nào đã bị bỏ lỡ để có thể sớm chấm dứt cuộc chiến tranh đó hay không và rút ra những bài học để thế hệ mai sau có thể tránh những thảm kịch trong tương lai. Trong cuộc hội thảo này hai bên đã trình bày nhận thức quan điểm của mình và tranh luận sòng phẳng. Trong nhiều vấn đề được đặt ra, thì vấn đề sự kiện ngày 6 tháng 2 năm 1965 ở Plây Cu (ta tấn công sân bay Hô-lô-uây) cũng gây nhiều tranh cãi. Sang ngày thứ hai của cuộc hội thảo, tôi đang chăm chú theo dõi cuộc tranh luận về các cơ hội bị bỏ lỡ do đó mà xảy ra chiến tranh (theo quan điểm của phía Mỹ) thì Chi-stơ Cu-pơ hỏi tôi:
- Thưa tướng Hiệp, ngài suy nghĩ gì về cuộc tấn công vào quân Mỹ ở Plây Cu đầu năm 1965 ?
Tôi có suy nghĩ gì về trận đánh này ư ? Rất bình thường thưa các ông - Tôi thầm nghĩ. Nếu đặt trận đánh đó trong tổng thể các trận đánh trên chiến trường miền Nam, nó chỉ là một trận rất nhỏ, có tiếng vang rất nhỏ trong cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam chông chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Vậy mà trận đánh đó, hơn một lần tôi đã được nghe các chiến lược gia Mỹ thổi phồng thật to tát, cố dựng nên cái cớ (mà sự chuẩn bị của họ cho cuộc “chiến tranh cục bộ” chống chiến tranh nhân dân Việt Nam đã chín muồi, cứu chế độ tay sai bán nước hại dân sắp sụp đổ) để họ buộc phải đưa quân viễn chinh vào miền Nam, “bỏ lỡ một cơ hội” lẽ ra không nên có ! Thật phi lý, nhưng thiết nghĩ đây cũng là dịp bóc trần tâm địa ngụy biện của những kẻ cố ý dựng nên sự kiện này, tôi nói:
- Lúc đó tôi ở Quân khu 5, cách thị xã Plây Cu không xa, nên tôi biết diễn biến và kết quả của trận đánh này. Nếu tôi không nhầm (theo tuyên bố của các nhà chính khách Mỹ) chúng tôi đã loại khỏi vòng chiến đấu 108 người Mỹ (8 chết, 100 bị thương), phá hủy 20 máy bay. Kết quả của trận đánh trại lính Mỹ ở Plây Cu nhỏ và bình thường thậm chí còn kém nhiều trận đánh khác ở chiến trường miền Nam lúc đó. Ấy vậy mà, phía Mỹ đã dựng nên “một cái cớ tày trời” biện hộ cho việc ném bom bắn phá miền Bắc, đưa quân viễn chinh xâm lược miền Nam. Vì vậy, đêm ngày 6 rạng ngày 7 tháng 2 năm 1965, quân giải phóng miền Nam tiến công trại lính Mỹ Hô-lô-uây ở Plây Cu, thì cũng trong ngày đó, tổng thống Mỹ đã ra lệnh cho quân đội tiến hành chiến dịch “Flamingdart” bắt đầu ném bom miền Bắc. Sáng ngày 11 tháng 2, để đáp lại cuộc tiến công của lực lượng vũ trang giải phóng Khu 5 vào trại lính Mỹ ở Quy Nhơn, Mỹ liền mở chiến dịch “Flamingdart II” ném bom vào hàng chục mục tiêu trọng yếu ở các tỉnh Khu 4 cũ. Sau đó, ngày 13 tháng 2 tổng thống Mỹ Giôn-xơn bắt đầu quyết định chiến dịch ném bom rộng khắp miền Bắc. Hành động leo thang này đã phơi bày rõ bản chất của kẻ xâm lược muốn Hà Nội phải khuất phục Mỹ và thôn tính lâu dài miền Nam Việt Nam. Đó là toàn bộ nội dung như tôi đã hiểu về các sự kiện ngày 7 tháng 2 năm 1965. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Ký ức Tây Nguyên - Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp« Trả lời #2 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2019, 10:04:31 am » | Chi-tsơ Cu-pơ lại hỏi:
- Theo chủ quan của ông, Hà Nội nghĩ gì về cuộc tấn công đó ?
Tôi nghiêm giọng:
- Tôi hoàn toàn không hiểu được điều là tại sao sự kiện này lại bị thổi phồng lên ngay đêm trước khi Mỹ ném bom miền Bắc ? Tại sao chính phủ Mỹ lại quan tâm và dễ bị kích động bởi cuộc tiến công này trong khi nó không hơn, không kém, chỉ là một hoạt động chiến trường bình thường. Kết luận lô-gíc của tôi về cái gọi là “sự kiện tiến công trại lính Mỹ làm tổn hại an ninh nước Mỹ” chỉ là một cái cớ, một lý do ngẫu nhiên để Giôn-xơn quyết định bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân đối với miền Bắc, điều mà ông ta có thể lúc đó đang muốn làm.
Tại sao tôi nói như vậy ? Bởi vì trước cuộc tiến công Plây Cu này có nhiều dấu hiệu cho thấy quân lực Việt Nam cộng hòa (quân ngụy) ở trong tình trạng không còn hy vọng. Họ mất hết khả năng chống lại lực lượng giải phóng một cách có hiệu quả. Nếu điều đó xảy ra ở cao nguyên, miền Trung thì có nghĩa là miền Nam Việt Nam bị cắt làm đôi. Không có khả năng ngăn ngừa điều đang diễn ra đó nên Mỹ đã lấy việc leo thang ném bom ra miền Bắc làm niềm hy vọng. Nếu như các ngài không đồng ý với nhận định này thì tôi muốn một người nào đó của phía Mỹ giải thích cho tôi rằng tại sao các sự kiện trong ngày 7 tháng 2 năm 1965 lại đáng chú ý đối với chính phủ Mỹ đến như vậy ?
Chi-tsơ Cu-pơ đáp:
- Tôi đã nghe ngài nói, thưa tướng Hiệp. Tôi thấy chúng ta đã trở lại với cuộc thảo luận về những cơ hội chấm dứt chiến tranh bị bỏ lỡ. Ngài nói rằng chỉ huy chiến trường địa phương ở gần Plây Cu đã ra lệnh tiến công nhưng tôi muốn nói với ngài rằng nếu trong thực tế, Bộ chỉ huy chiến trường địa phương ở gần Plây Cu đã không ra lệnh mở cuộc tiến công đó thì điều có thể làm là Mác Bun-đy và những người còn lại của nhóm chúng tôi phải quay trở về Oa-sinh-tơn với một lời khuyến nghị hoàn toàn khác mà chúng tôi đã cung cấp cho ông ta dựa trên cơ sở của cuộc tấn công ở Plây Cu là một cuộc khiêu khích có chủ tâm chống lại Mỹ trong khi Bun-đy đang ở trong đất nước này. Và ngài đã đúng, dựa trên cơ sở những gì đã xảy ra ở Plây Cu, cuộc ném bom đã được phát động. Nhưng nếu ngài biết được những gì đã xảy ra ở Oa-sinh-tơn (điều này tôi nhận thấy ngài không biết) - ngài sẽ nhận ra rằng trong chính phủ của chúng tôi có một nhóm đáng kể không thuộc loại “diều hâu” như mọi người thường nói. Những người này không sốt sắng lao vào cuộc chiến tranh không hạn chế ở Đông Nam Á. Và tôi có thể chỉ ra cho ngài rằng các ngài đã không giúp đỡ gì cho nhóm này cả...
Tôi trả lời:
- Như các ông đã biết, trong cuốn hồi ký “Tường trình của một quân nhân” của mình, tướng Oét-mo-len đã nói tới kế hoạch OPLAN37 được chuẩn bị từ mùa xuân năm 1964. ông ta nói thêm: “Những người của chúng tôi ở Sài Gòn thấy ít có khả năng là Tổng thống sẽ thực hiện nó trước cuộc bầu cử tháng 11. Quả vậy, chúng tôi thấy rõ ràng là một kế hoạch sau bầu cử. Vì vậy, có nhiều lý do để tin tưởng rằng cuộc tiến công ở Plây Cu chỉ là một lời bào chữa chứ không phải là nguyên nhân chính hoặc là “cái cò súng” cho việc mở rộng chiến tranh của Mỹ ra miền Bắc”. Chiến dịch “Flamingdart” được thực hiện ngay trong ngày hôm sau (7-2-1965) và sau đó các tiểu đoàn lính thủy đánh bộ đổ vào Việt Nam. Điều đó phải được hoạch định trước hàng tuần, thậm chí hàng tháng. Tiện đây tôi cũng dẫn chứng một vài trận đánh để thấy sự nghịch lý (ít nhất là nghịch lý về tính lô-gíc trong hội thảo này) rằng tại sao ngày 11 tháng 8 năm 1964, bộ đội đặc công quân giải phóng tiến công câu lạc bộ sĩ quan Mỹ ở Tân Sơn Nhất; sau đó ngày 25 tháng 10 năm 1964 lại tiếp tục tiến công khách sạn Brink ở Sài Gòn, giết và làm bị thương nhiều lính Mỹ, mà Nhà Trắng và Lầu Năm Góc vẫn chưa phản ứng “trừng trị Bắc Việt”. Tôi nghĩ rằng, những cuộc tiến công này đáng chú ý hơn nhiều so với cuộc tiến công ở Plây Cu, nhưng xem ra lúc đó chưa phải là thời điểm thích hợp vì sắp đến ngày bầu cử tổng thông Mỹ.
- Thưa tướng Hiệp, tôi xin lỗi đã cắt ngang câu nói của ngài - Gioóc Hơ-ring nói - Nếu có thể, tôi xin hỏi câu hỏi tiếp theo có liên quan đến Plây Cu. Rằng cuộc tiến công Plây Cu được ai hoạch định ? Có mối nhận biết nào về việc Bun-đy đang ở Sài Gòn hoặc sẽ ở Sài Gòn không ? Đã có lời khiển trách hoặc bất kỳ lời phê bình nào vì đã mở cuộc tiến công này hay không ?
- Tôi xin khẳng định lại rằng, cuộc tiến công thực tế là do Bộ chỉ huy các lực lượng ở Plây Cu tự quyết định. Các tướng lĩnh chỉ huy quân lực Việt Nam cộng hòa đã tổ chức lực lượng của họ để chống lại chúng tôi. Nhưng họ đã không ngăn cản được 30 chiến sĩ đặc công quân giải phóng tiến công trại lính Mỹ đã được canh phòng cẩn mật. Còn việc ngài Bun-đy lúc đó đang ở Sài Gòn và Aléc-xây Cơ-xư-ghin (Liên Xô) mới sang thăm Hà Nội thì chỉ đến bây giờ khi đọc hồi ký của ông Mác Na-ma-ra và ông Oét-mo-len tôi mới biết được điều đó. Việc các ngài cho rằng chúng tôi tiến công Plây Cu là vì sự có mặt của hai nhân vật này trên đất nước Việt Nam là không đúng. Những người hoạch định cuộc tiến công của chúng tôi đã không có một ý niệm gì về sự có mặt của hai người ấy trên đất nước chúng tôi. Đây là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chúng tôi - những cán bộ, chiến sĩ ở chiến trường chỉ có tìm cách tiến công địch. Đó là tư tưởng chủ động tiến công địch giành quyền làm chủ về mình, nên nó không hề có một sự hạn chế nào. Trong cuộc tiến công trại lính Mỹ ở Plây Cu, chúng tôi không những không bị phê bình mà còn được cấp trên khen thưởng.
- Khi chuẩn bị tiến công, các ngài có phân biệt mục tiêu mà các ngài gọi là “ngụy” và các mục tiêu gọi là “lính viễn chinh Mỹ” ?
- Không ! Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, chúng tôi nhận thức rằng quân ngụy và binh sĩ Mỹ đều là kẻ thù. Tư tưởng “tìm Mỹ mà diệt, tỉm ngụy mà đánh” không có gì khác nhau, cũng không có gì phân biệt. Đây là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chức năng của chúng tôi - những người lính ở chiến trường là tiêu diệt quân thù.
Sau đó một số thành viên hội thảo Mỹ có đưa ra những dẫn chứng về sự “cùng leo thang” của cả Mỹ và Bắc Việt Nam trong những năm 1965 -1968, nhằm xóa nhòa ranh giới giữa quyền tự vệ chính đáng của dân tộc ta và cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược mà đế quốc Mỹ tiến hành.
Chính từ trong cuộc hội thảo này, những gì mà các học giả Mỹ và các đồng chí ta đưa ra thảo luận về chiến trường Tây Nguyên, đã gợi lại cho tôi những kỷ niệm kỳ diệu trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Đó là những ký ức nồng đậm nhất, sâu lắng nhất trong mười năm “nếm mật, nằm gai” cùng quân và dân Tây Nguyên kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lập nên những chiến công lẫy lừng. Trong cuốn sách nhỏ này, tôi không thể nói đầy đủ tất cả những gì đã diễn ra trong suốt mười năm kể từ khi khối chủ lực Tây Nguyên chúng tôi sống và chiến đấu ở đây. Tôi chỉ ghi lại một số những sự kiện và những con người mà hình ảnh và chiến công của họ đã, đang và sẽ theo tôi suốt cuộc đời. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Ký ức Tây Nguyên - Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp« Trả lời #3 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2019, 10:05:51 am » | I THỜI KHẮC LỊCH SỬ Trước khi nói về trận thắng oanh liệt của quân và dân Tây Nguyên tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn tinh nhuệ bậc nhất của Mỹ ở thung lũng Ia Đrăng trong chiến dịch Plây Me mùa khô năm 1965, tôi muốn nói vắn tắt bối cảnh của giai đoạn lịch sử này.
Cuối năm 1964, đầu năm 1965, chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam Việt Nam bị phá sản. Nhà Trắng cho rằng thất bại trong “chiến tranh đặc biệt” ở Việt Nam mới chỉ là thất bai của ngụy quyền Sài Gòn, chứ chưa phải là thất bại của nước Mỹ và quân đội Mỹ. Vì vậy, ỷ vào tiềm lực quân sự và kinh tế to lớn lại có tham vọng ngông cuồng làm bá chủ thế giới, cuối cùng Giôn-xơn chọn phướng sách tăng quân và mở rộng chiến tranh. Ngày 28 tháng 7 năm 1965, tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã tuyên bố trong cuộc họp báo ở Nhà Trắng như sau: Hôm nay tôi đã ra lệnh đưa sang Việt Nam sư đoàn không vận và một số lực lượng khác nữa đề nâng hầu như ngay tức khắc số quân chiến đấu của chúng ta từ 75.000 lên 125.000. Sau đây khi cần thêm lực, lượng bổ sung thì lực lượng này sẽ được đưa sang theo yêu cầu.
Cuộc “chiến tranh cục bộ” bắt đầu từ đó.
Oét-mo-len vạch kế hoạch chiến lược cho cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ gồm ba giai đoạn với thời gian từ 2 năm đến 2 năm rưỡi. Giai đoạn 1 (cuối năm 1965) chặn chiều hướng thua, ghìm không cho cộng sản hoạt động, để bảo đảm triển khai lực lượng và bảo đảm an toàn cho các khu vực trong phạm vi có thể. Giai đoạn 2 (6 tháng đầu năm 1966) mở cuộc tiến công lớn để giành quyền chủ động phá chiến tranh du kích và lực lượng chính quy đối phương. Giai đoạn 3 (trong 1 năm đến 1 năm rưỡi đến giữa hoặc cuối năm 1967). Nếu đối phương kiên quyết chống lại thì sau giai đoạn 2 cần có thời gian từ 1 năm đến 1 năm rưỡi để đánh lớn nhằm tiêu diệt các lực lượng và khu căn cứ lớn của đối phương. Việc rút quân Mỹ và quân đồng minh sẽ bắt đầu vào giai đoạn 3 khi mà chính phủ Việt Nam cộng hòa có khả năng thành lập và duy trì trật tự trong nước và bảo vệ được biên giới.
Nhà Trắng tin tưởng bằng chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam kết hợp với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc chúng sẽ khuất phục được nhân dân ta. Ý định của Đảng ta là kiềm chế và thắng Mỹ trong cuộc “chiến tranh đặc biệt” để hạn chế tổn thất của nhân dân. Nhưng phái hiếu chiến ở Lầu Năm Góc và Nhà Trắng không dừng lại ở đó. Tướng Uy-lơ, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ cho rằng chỉ cần một sư đoàn Mỹ vào đứng ở nam vĩ tuyến 17 là họ có thể chặn đứng cuộc tiến công của ta và chỉ cần hai sư đoàn lính Mỹ thì họ có thể xoay chuyển ngọn triều quân sự (!). Ngược.với những tính toán chủ quan của Mỹ, trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta vẫn tiếp tục đẩy mạnh cuộc tiến công đẩy địch vào một tình thế hết sức bất lợi. Trong năm 1964 toàn miền Nam có trên 28 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị và nổi dậy. Lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta phát triển mạnh; Hầu hết các xã đều có từ một tiểu đội đến trung đội du kích. Bộ đội địa phương toàn Miền có tới 42 tiểu đoàn tập trung của tỉnh và ở mỗi huyện cũng có từ một trung đội đến một đại đội. Nhiều nơi còn thành lập các đơn vị đặc công... Thế trận chiến tranh nhân dân trên cả ba vùng chiến lược rừng núi, nông thôn, đồng bằng và thành thị ngày càng vững mạnh. Quân Mỹ, quân chư hầu cùng quân ngụy chẳng những “không đánh gãy được xương sống Việt cộng” mà còn bị quân và dân ta giáng những đòn phủ đầu choáng váng ở nhiều nơi. Trong năm 1964, quân và dân miền Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 119.000 tên địch. Tiêu biểu là trận Bình Giã diệt 2.031 tên (có 46 Mỹ), bắt sống 300 tên, bắn rơi 37 máy bay, phá hủy 27 xe bọc thép M113. Đó là trận thắng oanh liệt nhất của quân và dân miền Nam tính vào thời điểm đó.
Tôi muốn dành ít trang để nói về chiến trường Tây Nguyên trong thời khắc lịch sử này. Tây Nguyên, một vùng đất ở phía Tây Trung Bộ, với những cao nguyên rộng lớn và những cánh rừng nguyên sinh đại ngàn chiếm một phần ba diện tích rừng cả nước, lại ở độ cao có thể ví như mái nhà của Nam Đông Dương. Chiến trường này, trong kháng chiến chống Mỹ gồm ba tỉnh : Kon Tum, Gia Lai và Đắc Lắc với diện tích 36.000 km2, dân số khoảng 1 triệu người. Tây Nguyên có những điểm mạnh rất cơ bản, đó là tinh thần cách mạng của nhân dân và địa thế hiểm trở. Nói cách khác đó là con người và địa thế. Từ các hướng muốn đến Tây Nguyên đều phải vượt qua các dãy núi cao, những đường đèo quanh co, khúc khuỷu. Từ lâu thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã đánh giá rất đúng vị trí chiến lược của Tây Nguyên. Chúng cho rằng, ai chiếm được Tây Nguyên sẽ làm chủ được Đông Dương. Vì vậy, Tây Nguyên trở thành mục tiêu chiến lược và chiến trường rất quan trọng trong cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Chín năm kháng chiến chống Pháp và 20 năm chống Mỹ, cứu nước, có nhiều khu vực chưa bao giờ quân thù dám đặt chân đến như Ngọc Linh, vùng đầu nguồn sông Ba và đầu nguồn sông Sê-rê-pốc, v.v... | |
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Chín, 2019, 10:19:33 am gửi bởi macbupda » | Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Ký ức Tây Nguyên - Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp« Trả lời #4 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2019, 10:06:28 am » | Trong những năm đánh Mỹ, chiến trường Tây Nguyên hình thành ba khu vực. Khu vực cánh Bắc (tỉnh Kon Tum), có nhiều núi cao rừng rậm, có ngọn núi cao tới 2.598 mét (Ngọc Linh), 2.259 mét (Ngọc-ni-ay), v.v... Các dãy núi này thấp dần về phía Nam và tạo thành vùng cao nguyên quanh thị xã Kon Tum và Plây Cu. Rừng Kon Tum gần liền với rừng Hạ Lào và rừng Tây Quảng Nam trùng điệp tạo thành một địa bàn quân sự rất sâu hiểm và kín đáo. Trong những năm Mỹ - Diệm thực hiện chính sách “Tố cộng, diệt cộng”, dựa vào thế hiểm ấy ta đã nhen nhóm lực lượng cách mạng để từ đó trở thành phong trào lan ra xung quanh và tiến xuống đồng bằng. Kon Tum còn là đầu mối, nơi đón nhận nhân lực, vật lực từ hậu phương miền Bắc chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Trong kháng chiến chống Pháp cũng như trong chống Mỹ, Kon Tum là khu vực được giải phóng đầu tiên. Phần lớn những cuộc nổi dậy và những trận tiến công đều dấy lên từ đây. Cánh Bắc là vùng căn cứ đồng thời là chiến trường rất hệ trọng của Tây Nguyên. Nhận biết được điều đó, quân địch đã chiếm giữ và xây dựng vùng Bắc Kon Tum trở thành một khu vực phòng thủ khá kiên cố. Trung tâm phòng ngự này là Đắc Tô - Tân Cảnh, ở đây địch thường xuyên bố trí lực lượng cỡ sư đoàn chủ lực. Đường 18 từ Tân Cảnh đi Plây Cần sang A-tô-pơ (Lào) được chúng xây dựng thành tuyến phòng ngự cơ bản nhằm ngăn chặn và chia cắt chiến trường Tây Nguyên với hậu phương miền Bắc. Đoạn đường 14 từ Tân Cảnh đi Đắc Pét chúng cũng xây dựng thành tuyến ngăn chặn giữa Tây Nguyên với đồng bằng Khu 5. Trong những năm chiến tranh chông Mỹ, ở cánh Bắc Tây Nguyên luôn dịễn ra tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch.
Khu vực cánh Trung (tỉnh Gia Lai) địa hình ít mấp mô, có nhiều đất bằng và khá kín đáo. Cánh Trung nối liền với vùng Đông Bắc Cam-pu-chia như một dải địa hình không phân cách, tạo nên những khu vực địa hình có dung lượng lởn, tập kết được nhiều binh đoàn, binh chủng hợp thành. So với cánh Bắc, việc mở các đường quân sự, bố trí kho tàng ở đây thuận lợi hơn. Cánh Trung có con sông Pô Cô về mùa mưa nước chảy xiết rất trở ngại cho việc cơ động bộ đội. Plây Cu, tỉnh lỵ của Gia Lai có nhiều sân bay và căn cứ quân sự lớn của Mỹ như sân bay Cù Hanh (Hô-Ịô-uây), An Khê... Đường 19 từ Quy Nhơn đi Plây Cu kéo dài qua Đức Cơ đến tận Stung-treng (Cam-pu-chia) là đường chiến lược trọng yếu. Đó là con đường sống còn của địch trên chiến trường Tây Nguyên. Nhiều nhà chiến lược quân sự cho rằng ai kiểm soát đường 19 sẽ kiểm soát cao nguyên trung phần và ai kiểm soát cao nguyên, người đó sẽ kiểm soát Nam Việt Nam. Năm 1961, tướng Tay-lo đã mưu đồ lập một hành lang chiến lược cắt ngang bán đảo Đông Dương từ Trung Trung Bộ đến Thái Lan và đặt đường 19 trong khu vực hành lang này. Trong hồi ký của mình, Giôn-xơn đã có lúc hốt hoảng cho rằng: Đã cổ bằng chứng chắc chắn là các nhà chiến lược ở Hà Nội hy vọng cắt đôi Nam Việt Nam dọc một tuyến từ Plây Cu ở cao nguyên trung phần theo hướng đông cho tới bờ biển. Vì lẽ đó, các nhà chiến lược quân sự Mỹ đã sử dụng những lực lượng quan trọng chiếm giữ đường 19. Ngoài ý đồ trên địch còn ý định cắt chiến trường Tây Nguyên ra làm đôi và ngăn cách Tây Nguyên với chiến trường Nam Bộ.
Khu vực cánh Nám (tỉnh Đắc Lắc) là một vùng cao nguyên đất bằng. So với cánh Bắc và cánh Trung rừng ở đây thưa hơn, rất tiện cho việc cơ động các binh khi kỹ thuật. Cánh Nam cũng là nơi có dung lượng tập kết bộ đội rất lớn. Trở ngại lớn nhất ở đây là con sông Sê-rê-pốc (những con sông ở cánh Nam đều chảy về hướng tây), về mùa nước hung dữ, rất khó khăn cho việc đi lại. Buôn Ma Thuột, tỉnh lỵ của Đắc Lắc, nằm trên đường 14 cách thị xã Plây Cu 190 km, là thủ phủ chính trị của địch ở Tây Nguyên. Tuy nó rất quan trọng, nhưng do công tác bảo đảm hậu cần gặp nhiều khó khăn nên các hoạt động quân sự lớn của ta ở đây có hạn chế. Vì lẽ đó nên địch ở cánh Nam có phần sơ hở hơn so với cánh Bắc và cánh Trung.
Nhân dân Tây Nguyên có tinh thần yêu nước nồng nàn, có truyền thống cách mạng kiên cường, Mặc dù quân thù ra sức dụ dỗ mua chuộc và khủng bố dã man, nhưng đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vẫn gắn bó sắt son với cách mạng, một lòng một dạ theo Đảng, theo Bác Hồ. Trong những năm đen tối nhất của cách mạng miền Nam, với chính sách “tố cộng, diệt cộng”. Mỹ - Diệm tạm thành công ở nhiều nơi nhưng lại bị thất bại ở Tây Nguyên. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1960 một số nơi bị thoái trào nhưng ở Tây Nguyên phong trào vẫn giữ được và ngày càng phát triển. Khi quân địch dồn dân lập “khu trù mật”, “khu dinh điền”, “ấp chiến lược” một bộ phận nhân dân đã chạy vào rừng sâu, sống bất hợp pháp, không chịu vào vùng địch. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Kon Tum chỉ có hai vùng: vùng bất hợp pháp (căn cứ) và vùng địch, không có vùng hợp pháp. Còn ở Gia Lai hình thành ba vùng: vùng căn cứ, vùng hợp pháp và vùng địch. Vùng hợp pháp trở thành khu trung gian móc nối liên lạc giữa ba vùng. Ở Đắc Lắc tình hình cũng gần giống như Gia Lai. Vùng bất hợp pháp dần dần được xây dựng thành những căn cứ du kích và sau này đã được nối liền nhau trở thành khu căn cứ địa cách mạng; nhân dân trong vùng bất hợp pháp chịu đựng gian khổ, đói cơm, nhạt muối, thiếu thốn trăm đường nhưng họ rất kiên trung theo cách mạng. Chính họ là chỗ dựa vững chắc và cơ bản nhất tạo địa bàn cho các lực lượng chủ lực của ta từ miền Bắc vào đứng chân và tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân trên chiến trường Tây Nguyên. | |
Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Ký ức Tây Nguyên - Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp« Trả lời #5 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2019, 10:07:08 am » | Ngược lại lịch sử đấu tranh của Tây Nguyên, ta không thể quên được người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Dấu voi xưa còn in lại trên trảng cỏ An Khê, nơi dựng nghĩa của nhà Tây Sơn. Người dân Tây Nguyên tự hào đã góp con em của mình tham gia vào đội tượng binh của Nguyễn Huệ. Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ nhất, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã anh dũng cùng cả nước chống giặc. Người dân Tây Nguyên tự hào đã cùng đồng bào các tỉnh miền xuôi hưởng ứng các phong trào Văn Thân, Cần Vương chống xâm lược. Ngày 6 tháng 1 năm 1885, công sứ Quy Nhơn Na-ven cùng đoàn tùy tùng ngược đường 19 lên Plây Cu nhằm khuất phục người dân ở đây, nhưng bị đồng bào phục kích ở làng Plây Tio, giết một tên làm bị thương chín tên lính Pháp, buộc chúng phải bỏ cuộc.
Sang đầu thế kỷ XX, phong trào chống Pháp của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vẫn diễn ra liên tục sôi nổi, tiêu biểu nhất là cuộc chiến đấu vô cùng can trường ròng rã suốt 20 năm trời do Ama -Trang Lơn người dân tộc Mơ Nông lãnh đạo (1914-1934) đã lập căn cứ ở đại bộ phận vùng rừng núi Nam Tây Nguyên. Địch ra sức đàn áp nhưng vẫn không dập tắt được tinh thần yêu nước của nhân dân các dân tộc trên cao nguyên rừng xanh đất đỏ này.
Từ khỉ Đảng ra đời, thông qua nhiều chiến sĩ cách mạng, đặc biệt là những đảng viên cộng sản trong các nhà tù đế quốc ở Kon Tum, Buôn Ma Thuột, cơ sở cách mạng ở đây được nhen nhóm và phát triển. Sự lãnh đạo của Đảng dần dần được mở rộng đánh dấu bước ngoặc về chất trong phong trào yêu nước của đồng bào Tây Nguyên. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nhiều tấm gương chiến đấu anh dũng giữ trọn khí tiết đến hơi thở cuối cùng, tiêu biểu là Anh hùng Vừu người dân tộc Ba Na. Đặc biệt là Anh hùng Núp và đội du kích Xi Tơ của ông đã thành biểu tượng của cả Tây Nguyên bất khuất. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Plây Cu ngày 19 tháng 8 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau. Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu liên lạc, hai là vì kẻ thù xúi giục để chia rẽ chúng ta. Ngày nay nước Việt Nam là một của chúng ta... Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta. Chúng ta phải thương yêu, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu cầu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta(1). Từ đó những hiểu biết và niềm tin về Đảng tập trung vào Bầc Hồ kính yêu. Những tiếng “muối Bác Hồ”, “chữ Bác Hồ”, “bộ đội Bác Hồ”... đã trở nên gắn bó, sâu nặng biết bao trong lòng người Tây Nguyên.
Nhân dân Tây Nguyên chẳng những cầm vũ khí phối hợp với bộ đội đánh giặc giữ làng, mà còn tích cực sản xuất lương thực, nuôi cán bộ, bộ đội, đi dân công cáng thương, gùi đạn, đào hầm đắp ụ, cung cấp tình hình địch và dẫn đường cho bộ đội. Ba tiếng “làm cách mạng” thiêng liêng và quen thuộc đã trở thành nguyện vọng, niềm tự hào và là nghĩa vụ chung, của mọi người dân, không phân biệt gái trai, lớn nhỏ. Dù đói cơm nhạt muối, gian khổ ác liệt đến đâu, đồng bào vẫn một lòng trung thành với cách mạng, luôn lạc quan tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng.
Nhân dân các dân tộc Tây Nguyên những người con của đại gia đình các dân tộc Việt Nam có một niềm tự hào rất chính đáng với truyền thống đấu tranh của mình, với nền văn hóa cổ truyền lấp lánh như một viên ngọc trong nền văn hóa lâu đời của dân tộc ta. Tây Nguyên còn là một miền đất huyền thoại với những ông vua Lửa, vua Nước (Pơ tan Pui, Pơ tan Ia) với những chàng dũng sĩ Đam San, Xinh Nhã... mạnh khỏe, tài ba và quả cảm cùng những âm thanh bất tận của cồng chiêng, của tiếng đàn T’rưng trầm hùng, của điệu kể khan đầy trữ tình, và những điệu múa rông chiêng, Kà Tu sôi nổi, rộn ràng. Có thể nói kiên cường, bất khuất trước quần thù, thủy chung son sắt với cách mạng, tin yêu Đảng, tôn kính Bác Hồ, sẵn sàng hy sinh tất cả để giành độc lập, tự do đã trở thành phẩm chất tốt đẹp của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.
Ngay từ trong kháng chiến chống Pháp, Đảng ta đã đánh giá rất cao vị trí chiến lược của chiến trường Tây Nguyên: “Nhiệm vụ phất triển vào Tây Nguyên phải coi là quan trọng bậc nhất, nhiệm vụ củng cố vùng tự do phải coi là nhiệm vụ quan trọng thứ hai”. Tháng 10 năm 1960, trong bài giải thích về Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng: “Tây Nguyên rộng lởn, địa thế tốt, phong trào quần chúng tốt... Tây Nguyên có khoảng 1 triệu dân, ta phải làm thế nào có thể 1/10 dân số kiên quyết cầm vũ khí đánh địch. Đặc biệt phải hết sức chú ỷ tăng cường về quân sự... Ớ đây mạnh thì ta mạnh toàn diện cả miền Nam. Nơi không có người thì đưa người đến, thực hiện đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 15. Không có người trồng người, có đất có ăn”.
(1) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội, 1995, tr. 217 | |
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Chín, 2019, 09:51:58 pm gửi bởi macbupda » | Logged
| Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên. |
|
|
macbupda Trung tá  Bài viết: 11970  Lính của PTL | 
| Ký ức Tây Nguyên - Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp« Trả lời #6 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2019, 10:08:37 am » | Năm 1961, Trung ương Đảng ta chỉ thị “Căn cứ lâu dài và cho toàn miền Nam là khu vực rừng núi Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ”. Tháng 1 năm 1962, Đảng ủy Quân khu 5 ra nghị quyết nhấn mạnh “Tây Nguyên chẳng những chiếm vị trí trung tâm cơ động trên chiến trường liên khu và cả ở miền Nam Việt Nam, mà còn là trung tâm cơ động trên chiến trường Nam Đông Dương”.
Cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân miền Nam sang đến đầu năm 1964 đã đứng trước thời cơ chiến lược mới - chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đang bị thất bại nặng nề và đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Lực lượng cách mạng miền Nam đã phát triển không ngừng và có khả năng giáng đòn quyết định làm thất bại âm mưu chiến tranh của địch. Quy luật đấu tranh vũ trang của chiến tranh giải phóng là từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy. Trên cơ sở chiến tranh du kích đã được mở rộng từng bước phải phát triển chiến tranh chính quy để giữ vững thế tiến công, tiêu diệt lực lượng lớn của địch giải phóng đất đai. Trong thời kỳ đầu của chiến tranh giải phóng, do tương quan lực lượng so sánh giữa ta và địch, chúng tạm thời có những mặt mạnh hơn ta, vì vậy ta thường chọn rừng núi làm chiến trường để tiến hành chiến tranh chính quy, tác chiến của bộ đội chủ lực. Theo phương châm đó, ngày 1 tháng 5 năm 1964, Bộ Chính trị quyết định thành lập Mặt trận Tây Nguyên, lấy phiên hiệu là chiến trường B3. Mặt trận Tây Nguyên được hình thành lúc đầu như là phân khu miền Tây của Quân khu 5 do anh Hà Vi Tùng và anh Dương Liên phụ trách, về sau anh Nguyễn Chánh làm tư lệnh, anh Đoàn Khuê làm chính ủy.
Như trên đã nói, Tây Nguyên là một bộ phận đất đai thuộc Liên khu 5. Nhiệm vụ của chiến trường Tây Nguyên gắn bó chặt chẽ với chiến trường Khu 5. Nhưng do vị trí của nó, về mặt chiến lược quân sự, Tây Nguyên còn có những quan hệ với các chiến trường Đông Nam Bộ, Trị Thiên và hai chiến trường nước bạn Lào và Cam-pu-chia. Do vậy, ngoài nhiệm vụ đối với chiến trường Quân khu 5, Tây Nguyên còn có những nhiệm vụ riêng do Bộ trực tiếp giao cho. Chỉ thị của Quân ủy Trung ương ngày 27 tháng 4 năm 1965 xác định nhiệm vụ của Tây Nguyên như sau: Trong phạm vỉ chiến tranh đặc biệt, Tây Nguyên là chiến trường chính để tiêu diệt sinh lực địch; phối hợp với Pa-thét Lào giữ vững và mở rộng khu giải phóng Hạ Lào tạo thành một căn cứ tương đối lớn ở Trung Đông Dương. Tuy vậy, trong từng thời kỳ phát triển khác nhau của chiến tranh, nhiệm vụ của chiến trường có lúc đã có sự bổ sung hoặc thay đổi nhất định, nhưng nhiệm vụ chung có thể nói vắn tắt: Một là, xây dựng chiến trường đánh tiêu diệt lớn, có đội quân chủ lực mạnh làm nòng cốt thúc đẩy ba thứ quân cùng phát triển, tiêu diệt, tiêu hao nhiều và rộng rãi sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Thu hút, giam chân lực lượng chủ lực cơ động Mỹ - ngụy, tạo điều kiện cho đồng bằng và đô thị nổi dậy. Phối hợp chặt chẽ với Trị Thiên, Đông Nam Bộ và các chiến trường khác tiến công địch trong những thời điểm chiến lược. Hai là, xây dựng hậu phương trực tiếp của cách mạng miền Nam và Đông Dương |
|
|