KÝ ỨC THÁNG GIÊNG NĂM ẤY
Trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có những địa danh đã trở thành biểu tượng cho tinh thần bất khuất của cả một dân tộc. Ở cửa ngõ phía Bắc thành phố Đà Nẵng, phường Hòa Hiệp chính là một mảnh đất như thế. Nhìn lại những tư liệu từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, người ta không chỉ thấy một trận đánh, mà còn thấy một tượng đài vĩ đại được xây đắp bằng lòng dân sắc son thủy chung với cách mạng.
Lịch sử lùi lại thời điểm tháng 7 năm 1967, khi chiến trường Quảng Đà bước vào giai đoạn cam go, khốc liệt. Nhận mệnh lệnh từ cấp trên, Ban Lương thực Quảng Đà đã điều động đơn vị K700 tiến ra cánh Bắc Hòa Vang, giao trọng trách cho Phó Chỉ huy Nguyễn Ngọc Dũng phối hợp cùng Đảng ủy Khu I và cơ sở xã Hòa Hiệp. Nhiệm vụ chiến lược lúc bấy giờ được vạch rõ: chuẩn bị nguồn lương thực và các phương án hoạt động, dẫn dắt quần chúng thôn Kim Liên mở mũi tiến công nổi dậy kéo vào Nam Ô. Đó là một nhiệm vụ tưởng chừng bất khả thi bởi Hòa Hiệp nằm trọn trong vùng địch kiểm soát nghiêm ngặt. Thôn Kim Liên bị bao vây bởi hàng rào ấp chiến lược, người dân sống trong cảnh “cá chậu chim lồng”. Hệ thống phòng thủ của Mỹ ngụy bủa vây dày đặc với đồn Nhất, đồn Nhì, kho xăng Liên Chiểu và đầu cầu Thủy Tú án ngữ bảo vệ đường đèo Hải Vân. Thị trấn Nam Ô lại là sào huyệt của bọn tề ngụy các xã cánh Bắc Hòa Vang, thôn Xuân Thiều có địch đóng ở xóm làng, sân bay, còn phía Đông là trận địa pháo Thanh Vinh sừng sững. Kẻ thù không dùng bom đạn cày xới vùng ven đô này, mà dùng thủ đoạn kìm kẹp dân hết sức tinh vi, thâm độc hòng bóp chết phong trào cách mạng. Chúng tổ chức lùng ráp, bắt bớ, giam cầm đánh đập, bỏ tù những ai bị nghi ngờ có quan hệ với Việt cộng. Đến mức, khi chiến tranh kết thúc, hầu như tất cả cơ sở cách mạng Hòa Hiệp ai cũng phải ít nhất một lần bị địch bắt tra tấn, bị tù tội.
Thế nhưng, súng đạn và ngục tù của địch đã thất bại trước truyền thống đấu tranh và lòng thủy chung son sắt của nhân dân nơi đây. Giữa lằn ranh sinh tử, lòng dân Hòa Hiệp đã tự vận dụng sáng tạo, linh hoạt các biện pháp để mua gạo tiếp tế cho cách mạng. Có khoảng năm bảy chục gia đình ở Kim Liên tự nguyện mua gạo, ban đêm thức cảnh giới làm tín hiệu cho bộ đội vào lấy, ban ngày giấu gạo dưới thúng phân gánh ra khỏi ấp chiến lược đem vào vùng ranh núi cho cán bộ. Tại Nam Ô, bà con nhận tiền mua và chuyển gạo vào Xuân Thiều cho cán bộ xuống lấy, hoặc lợi dụng lúc đi củi để giấu trong ghe chở lên khe Răm. Thậm chí, nhiều mẹ nhiều chị phải giấu gạo trong ống quần, gom góp chắt chiu từng lon gạo như kiến tha lâu đầy tổ. Xúc động nhất là những đêm trắng trên sông Thủy Tú, nhân dân Xuân Thiều và Thủy Tú dùng dăm bảy chiếc thuyền chở gạo vượt sông vào đập Cây Cừa. Khi trời sáng không kịp quay về, họ chấp nhận nhận chìm thuyền xuống nước giấu trong bãi sậy, chờ khi có bà con lên làm đồng mới theo về để địch khỏi nghi ngờ. Khi mở chiến dịch, trong thời gian ngắn cần số lượng lương thực lớn, hàng trăm người dân Hòa Hiệp đã xung phong tải gạo lên căn cứ, một số xung phong ở lại một thời gian để tải đạn phục vụ cho bộ đội tên lửa đánh địch. Lòng dân không chỉ nuôi quân bằng gạo mà còn cung cấp nguồn nhân lực vô giá. Chỉ trong đợt chuẩn bị Tết Mậu Thân, hai xã Hòa Hiệp và Hòa Lạc đã bổ sung vào đơn vị K700 gần 50 thanh niên thoát ly lên căn cứ, đa số là nữ thanh niên, diễn ra thành từng đợt an toàn mà địch không hề phát hiện được.
Theo kế hoạch chung, Hòa Hiệp được xác định là địa bàn trọng điểm của cánh Bắc Hòa Vang, và thị trấn Nam Ô chính là điểm hợp quân để kéo vào thành phố Đà Nẵng. Trước ngày nổ ra khởi nghĩa, các đơn vị của ta đã vào rấm quân sẵn sàng tại Thủy Tú, Xuân Thiều, Kim Liên và Nam Ô. Tối mồng 30 Tết, một số đồng chí trong đội công tác vào ấp chiến lược Kim Liên liên lạc cơ sở tại chỗ, vận động quần chúng nổi dậy, lực lượng còn lại nằm chờ bên ngoài trong bộ thường phục, mang theo lựu đạn và súng ngắn được ngụy trang kĩ. Sáng mồng Một Tết năm 1968, trong khí lạnh của tiết xuân, lực lượng quần chúng sục sôi từ Kim Liên và xóm Vạn rầm rập kéo sang Nam Ô với quân số khoảng 500 người, có lực lượng ta đợi sẵn nhập vào làm nòng cốt. Khí thế ấy bị chặn đứng tại đầu cầu Thủy Tú khi bọn Mỹ được trang bị súng ống đầy đủ đứng dàn hàng ngang phong tỏa. Trong đám đông quần chúng, một nữ thiếu niên là cơ sở cách mạng đã dũng cảm vượt lên phía trước, có cán bộ cải trang đi bên cạnh bảo vệ, sử dụng tiếng Anh thành thạo trao đổi với tên chỉ huy Mỹ, yêu cầu để cho nhân dân qua cầu. Cuộc giằng co kéo dài hơn một giờ đồng hồ nhưng bọn Mỹ kiên quyết không chấp nhận.
Trước tình hình đó, ban chỉ huy quyết định mở con đường khác, điều hướng đoàn người về xóm Vạn và cấp tốc huy động tất cả ghe thuyền của bà con để chở người vượt sông Thủy Tú. Nhưng khi mấy chục chiếc thuyền đi đầu chở người qua gần đến Cồn Dâu, địch ở trên cầu bất ngờ nổ súng đại liên, trung liên, súng trường nhả đạn xối xả. Máu đã đổ trên dòng sông, một cán bộ K700 và nhiều người dân bị thương. Dù những chiếc ghe đi sau vẫn tiếp tục tiến qua sông dưới làn đạn, nhưng làn đạn bắn cắt ngang giữa sông mỗi lúc càng dữ dội buộc thuyền phải quây lại, số nhân dân còn đứng bên bờ phải tháo lui về Kim Liên. Kết quả chỉ có số ít người vào được Nam Ô từ hướng này. Dẫu mũi đường thủy trắc trở, ngọn lửa nổi dậy vẫn bùng lên ở hướng khác khi lực lượng đấu tranh chính trị Thủy Tú tập trung ở Cồn Dâu đã được cơ sở chở vào Nam Ô an toàn. Lực lượng khởi nghĩa ở các mũi tập trung vào Nam Ô khoảng 500 người, cùng với 200 người tại chỗ với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, đã đồng loạt nổi dậy đánh đuổi tề ngụy, giành chính quyền về tay nhân dân. Giữa cuộc mít tinh rực lửa, anh Nguyễn Thành Năm (Năm Dừa) đứng lên phát biểu, kêu gọi nhân dân tham gia truy quét bọn tề ngụy, ủng hộ cách mạng.
Lực lượng khởi nghĩa đã làm chủ thị trấn Nam Ô trọn vẹn trong một ngày lịch sử trước khi địch điên cuồng phản công. Chúng đổ lính Thủy quân lục chiến, Biệt động quân lên bãi biển Xuân Thiều bao vây Nam Ô, dùng máy bay bắn rốckét và rải truyền đơn kêu gọi ta buông vũ khí đầu hàng. Các chiến sĩ cách mạng đã chiến đấu vô cùng anh dũng. Tại bến xe Nam Ô, chị Phan Thị Hòa dũng cảm đứng chặn không cho xe địch tiến vào và bị địch bắn hy sinh tại chỗ. Đến 18 giờ cùng ngày, các chiến sĩ ta chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng.
Chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968 tại Hòa Hiệp đã khép lại, dẫu thị trấn Nam Ô chỉ được giải phóng trong một ngày ngắn ngủi nhưng ý nghĩa lịch sử của nó thì còn mãi. Nằm trên trục đường chiến lược Huế - Đà Nẵng độc đạo, hệ thống phòng thủ nghiêm ngặt bậc nhất của Mỹ ngụy đã bị quật ngã bởi sức mạnh của lòng dân và ý chí của các chiến sĩ cộng sản. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, trận đánh năm ấy đã lùi xa vào quá khứ, nhưng tinh thần Hòa Hiệp và những đóng góp to lớn của nhân dân nơi đây sẽ mãi là một bản hùng ca bất tử, là niềm tự hào soi sáng đường cho các thế hệ mai sau.



