Ký ức tháng Tư của Đại tá Văn Minh Trường

Đại tá Văn Minh Trường là một trong những cán bộ trưởng thành từ chiến trường miền Nam, trực tiếp cầm súng chiến đấu từ năm 1961 cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Từ một người lính binh nhì, ông từng bước trưởng thành, trở thành Trung đoàn trưởng Trung đoàn 812, đơn vị chủ lực của Quân khu 6 cũ. Trong gần 14 năm chiến đấu, ông đã trải qua hàng trăm trận đánh, 5 lần bị thương nặng và 2 lần bị bom Mỹ đốt cháy toàn thân.

Đại tá Văn Minh Trường.
Từ người lính đến Trung đoàn trưởng
Những năm tháng chiến đấu của Văn Minh Trường gắn với nhiều chiến trường ác liệt ở miền Nam. Ông từng tham gia 45 ngày đêm chiến đấu trong Mậu Thân 1968, có ngày phải chiến đấu 4-5 trận, giằng co với quân địch từng góc phố, từng con hẻm ở nội thành thị xã Phan Thiết.
Qua những trận chiến liên tiếp, ông trưởng thành từ một người lính thành cán bộ chỉ huy. Đến năm 1975, ông được giao trọng trách Trung đoàn trưởng Trung đoàn 812, trực tiếp chỉ huy lực lượng chiến đấu trên địa bàn Bình Thuận và các tỉnh thuộc Quân khu 6.
Trận đánh ác liệt ở Chi khu Võ Đắc
Trong hàng trăm trận đánh đã trải qua, ông nhớ nhất là trận tiêu diệt Chi khu Võ Đắc.
Chi khu này được quân địch xây dựng kiên cố với hệ thống công sự, lô cốt, hầm hào nhiều tầng, nhiều lớp; có pháo 105mm, pháo tầm ngắn, súng cối và nhiều loại hỏa lực khác. Xung quanh chi khu còn có các lực lượng địch sẵn sàng chi viện.
Đêm 16/3/1975, Trung đoàn 812 phối hợp với Tiểu đoàn Đặc công 200C và Đại đội 88 tỉnh Bình Tuy bắt đầu vây lấn Chi khu Võ Đắc. Quân địch chống trả dữ dội, gây thương vong cho bộ đội ta. Các đơn vị từng bước tiêu diệt những đồn, bót và lực lượng chi viện xung quanh, siết chặt vòng vây.
Rạng sáng 20/3, khi lực lượng đặc công 200C áp sát cửa mở, hệ thống thông tin của ta bị hỏa lực địch đánh tê liệt. Trong tình thế cấp bách, Văn Minh Trường cùng Chủ nhiệm Thông tin và cán bộ liên lạc vượt khoảng 1,5km dưới làn pháo địch để khôi phục liên lạc và trực tiếp tổ chức lực lượng.
Sau khi hệ thống thông tin được củng cố, lực lượng ta tiếp tục mở cửa xung phong. Đến rạng sáng 20/3, Chi khu Võ Đắc bị tiêu diệt và làm chủ. Thừa thắng, các đơn vị phát triển tiến công, giải phóng các xã lân cận. Đến 22/3/1975, toàn huyện Hoài Đức (nay là huyện Đức Linh) được giải phóng.
Tiến về Phan Thiết
Sau chiến thắng Võ Đắc, Trung đoàn 812 tiếp tục tiến quân. Ngày 25/3/1975, đơn vị theo Quốc lộ 20 tiến lên giải phóng Di Linh, Bảo Lộc, Đà Lạt, rồi quay về Hàm Thuận để phối hợp với các lực lượng khác.
Đêm 7/4, Trung đoàn 812 cùng Tiểu đoàn Đặc công 200C, Tiểu đoàn 482 tỉnh Bình Thuận và Đại đội 3 huyện Hàm Thuận tiến công, giải phóng Ma Lâm - Thiện Giáo, tạo thế áp sát thị xã Phan Thiết.
Tiếp đó, các đơn vị đánh chiếm nhiều đồn bốt trên Quốc lộ 1A và đặc biệt là cầu Phú Long. Từ ngày 14 đến 18/4, bộ đội ta phải hứng chịu hàng chục tấn bom, đạn pháo cùng nhiều đợt phản kích của quân địch nhưng vẫn kiên quyết giữ cầu, tạo điều kiện cho cánh quân duyên hải của Quân đoàn 2 tiến về phía Nam.
Đêm 18/4, sau khi hiệp đồng với Quân đoàn 2, các lực lượng của ta đồng loạt tiến công thị xã Phan Thiết. Trong bóng tối, nhiều người dân địa phương tình nguyện dẫn đường, chỉ vị trí các mục tiêu quân sự, kho tàng của địch.
Các đơn vị nhanh chóng đánh chiếm những vị trí quan trọng, giải phóng 70 tù binh tại nhà tù Đinh Công Tráng, chiếm tòa tỉnh trưởng, kho bạc và nhiều căn cứ quân sự, hậu cần của đối phương.
Giọt nước mắt ngày quê hương được giải phóng
Rạng sáng 19/4/1975, Phan Thiết được giải phóng.
Sau gần 14 năm chiến đấu, Văn Minh Trường và những người đồng đội cuối cùng cũng chứng kiến ngày quê hương hoàn toàn thoát khỏi chiến tranh. Ông nhớ lại khoảnh khắc ấy với những giọt nước mắt.
Đó là những giọt nước mắt của niềm vui, nhưng cũng là nước mắt dành cho những người đồng đội đã nằm lại trên đường tiến vào thị xã và trong những trận đánh trước đó.
Bởi với người lính từng đi qua chiến tranh, ngày chiến thắng không chỉ là niềm vui của những người còn sống. Đó còn là sự tưởng nhớ đối với những người đã hy sinh máu xương để đổi lấy ngày hòa bình.
“Chiến thắng này không của riêng ai”
Khi nhìn lại cuộc chiến, Đại tá Văn Minh Trường không xem những chiến công là thành tích của riêng mình. Ông nhấn mạnh rằng thắng lợi là kết quả của Đảng, Nhân dân, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích và sự vùng lên của quần chúng nhân dân.
Cuộc đời binh nghiệp của ông là một hành trình từ người lính trực tiếp cầm súng đến cán bộ chỉ huy, đi qua hàng trăm trận đánh và nhiều lần đứng giữa ranh giới sinh tử.
14 năm khói lửa, 5 lần bị thương nặng, 2 lần bị bom đốt cháy toàn thân – nhưng Văn Minh Trường vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến ngày quê hương được giải phóng. Câu chuyện của ông cũng là ký ức về cả một thế hệ người lính đã chấp nhận gian khổ, hy sinh để đi đến ngày 30/4/1975 – ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất.



