Ký ức Thành cổ Quảng Trị của người lính liên lạc Trịnh Xuân Tính
Trong bức ảnh chụp cùng đồng đội năm xưa, ông Trịnh Xuân Tính đứng lặng ở hàng giữa, nhưng ký ức thì như vẫn còn đang ở lại bên kia sông Thạch Hãn. Ông sinh ra ở Hà Bình, Hà Trung (Thanh Hóa), nhập ngũ tháng 5/1972, huấn luyện tại Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 15, Quân khu 3. Chỉ một tháng sau, đơn vị nhận lệnh đi B. Cuộc đời lính của ông bắt đầu theo cách vội vã như thế: vừa kịp khoác áo lính, đã phải lao vào nơi ác liệt nhất.
Cuối tháng 7/1972, ông vào tới Quảng Trị. Sang tháng 8/1972, ông được bổ sung về Trung đoàn 101, Sư đoàn 325, chốt giữ các điểm An Tiêm – Chợ Sãi – Nại Cửa thuộc huyện Triệu Phong, ở hướng Đông Bắc Thành cổ Quảng Trị. Ông làm chiến sĩ liên lạc bên cạnh chỉ huy trung đoàn, nên chứng kiến nhiều hơn một người lính bình thường: chứng kiến cách đồng đội ngã xuống, chứng kiến những mệnh lệnh ngắn gọn giữa bom đạn, và chứng kiến cả sức bền kỳ lạ của con người khi bị dồn đến tận cùng.
Hầm ngập nước, cơm lẫn mảnh đạn Nhắc về Thành cổ, ông Tính thường bắt đầu bằng những điều rất “đời”: mưa, nước, và cái đói.
Ông kể, giai đoạn giữa tháng 8 đến tháng 9, mưa nhiều đến mức hầm ngập, bộ đội không ngủ nằm được. Có hôm, anh em phải thay nhau múc nước, bì bõm suốt đêm, cố giữ hầm không chìm. Ăn cơm cũng là một cuộc chịu đựng: nắm cơm sũng nước, có khi trong nắm cơm còn lẫn cả mảnh đạn. Người lính vừa ăn vừa nhìn nhau, không phải để kể khổ, mà để tự nhắc: mình vẫn còn sống, vẫn còn phải trụ.
Cái “khốc liệt” ở đây không chỉ là bom pháo; mà là những ngày bị ép sống trong bùn nước, mùi khét thuốc súng, đêm lạnh buốt và cái bụng rỗng. Nhưng giữa tất cả, điều ông nhớ rõ nhất lại là sự bình tĩnh của đồng đội: ít than vãn, ít kể công, chỉ lặng lẽ làm phần việc của mình.
Những trận đánh và niềm vui nhìn cờ tung bay Trong dòng hồi ức, ông Tính nhắc đến những trận đánh mà ông coi là dấu mốc không thể quên. Có những thời điểm, phía địch buông ra cả một chuỗi tuyên bố ngạo mạn, gọi tên đơn vị, gọi tên chỉ huy, như để đè tinh thần. Nhưng rồi, thực địa trả lời bằng cách khác.
Ông nhớ những ngày chiến sự căng như dây đàn, xe tăng, xe bọc thép địch hoạt động dày đặc, chạy suốt ngày đêm. Và ông nhớ cái cảm giác rất “người lính”: vui nhất không phải là mình được khen, mà là vùng giải phóng vẫn giữ được, là cột cờ vẫn đứng, là lá cờ của ta vẫn tung bay sau những giờ phút tưởng như không thể cầm cự.
Ông nói, với một người lính ở tuyến đầu, đôi khi niềm vui chỉ gói trong một hình ảnh đơn giản như thế: cờ còn, trận địa còn, anh em còn.
“Giỗ trận” 21/3/1975: ngày Trung đoàn 101 không bao giờ quên Rời những ngày Thành cổ, ký ức của ông lại kéo về tháng 3/1975, khi mở màn chiến dịch Thừa Thiên – Huế. Ông gọi 21/3 là “ngày giỗ trận” của Trung đoàn 101.
Sáng sớm 21/3/1975, tiếng súng mở màn. Trong đội hình Sư đoàn 325, Trung đoàn 101 cùng Trung đoàn 18 nhận nhiệm vụ tiến công các điểm cao thuộc dãy Kim Sắc, tạo bàn đạp cắt đứt đường 1 từ Bắc Lương Điền đến Nam Phú Lộc. Đó là đoạn “xương sống” giao thông của địch, cắt được là thế trận địch bị tách đôi.
Đơn vị chuẩn bị gấp rút trước Tết, tự mở đường qua đỉnh 1048, kéo pháo, gùi đạn lên trận địa. Theo kế hoạch, các hướng đồng loạt nổ súng, dưới chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Giảng và Chính ủy Lê Đang. Nhưng chiến đấu không bao giờ đi đúng như lời tính: đến trưa 21/3, ta vẫn chưa làm chủ toàn bộ dãy Kim Sắc, trong khi yêu cầu mặt trận là phải cắt đường 1 ngay trong ngày.
Đến gần trưa 22/3, Tiểu đoàn 2 phối hợp đơn vị bạn đã làm chủ đoạn khoảng 4km đường 1 từ Ràng Bò đến Bạch Thạch – như một “lưỡi dao” cắt ngang dòng rút chạy của địch. Đòn cắt ấy chặn lại hàng ngàn xe đủ loại đang tháo chạy về Đà Nẵng.
Ông Tính nói, nhiệm vụ hoàn thành, nhưng cái giá thì không thể đếm. Nhiều đồng đội hy sinh, nhiều người đến nay vẫn chưa biết nằm ở đâu. Những nghĩa trang ở Lộc An, Lộc Điền, Lộc Trì còn rất nhiều bia mộ không tên. Vì vậy, cứ đến 21/3, những người lính Trung đoàn 101 còn sống lại tụ họp theo từng nhóm nhỏ, thắp hương, nhắc nhau nhớ ngày ấy như một lời hẹn với đồng đội.
Trung đội Mai Quốc Ca và cuộc đọ súng không cân sức Ông Tính dừng rất lâu khi kể về Trung đội Mai Quốc Ca.
Tối 9/4/1972, trung đội gồm 20 người mang theo 120kg bộc phá xuất phát từ rừng xuống đánh cầu Quảng Trị (cầu Thạch Hãn), nhằm đánh sập cầu, chặn đường rút lui và tiếp viện của địch. Đến khoảng 4 giờ sáng, đội hình còn cách cầu chừng 300m thì bị phát hiện.
Một trung đội 20 người phải đối đầu với một tiểu đoàn địch – đó là cuộc đấu súng mà ngay từ đầu đã quá chênh lệch. Đến hơn 10 giờ trưa 10/4, trung đội chỉ còn lại 3 tay súng. Ba người quyết định mở đường máu rút lui, nhưng cả ba đều bị thương; rồi hai người hy sinh.
Người còn lại là Vũ Quang Thành (quê Vĩnh Lộc, Thanh Hóa), bị thương nặng, mảnh đạn găm ở hông trái. Anh cố bò ra bờ sông Thạch Hãn thì ngất lịm, bị địch bắt, đưa qua nhà lao Đà Nẵng tra khảo, sau chuyển ra trại tù Phú Quốc. Đến 10/3/1973, sau Hiệp định Paris, anh được trao trả tự do.
Trong khi đó, phía ta từng ghi tên cả 20 người của trung đội vào danh sách hy sinh. Thi thể 19 đồng đội bị địch kéo về gần cầu phơi nắng thị uy, chỉ khi dân phản đối, chúng mới cho đưa đi chôn. Sau giải phóng, các anh được quy tập về nghĩa trang huyện Triệu Phong, và có một ngôi mộ khắc tên Vũ Quang Thành như một sự nhầm lẫn đau xót của chiến tranh.
Ông Tính nói, trước khi ngã xuống, trung đội đã tiêu diệt khoảng 125 tên địch, làm bị thương nhiều tên khác, phá hủy một xe quân sự, khiến địch chậm chi viện. Năm 1973, Trung đội Mai Quốc Ca được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND, đồng thời được phong tặng danh hiệu “Trung đội 1 thắng 100” để ghi nhớ một đơn vị đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.
“Lửa căm thù” lên nòng súng – và lời hẹn trở về Ông Tính thừa nhận: lúc trẻ, họ ra trận với một niềm tin rất thẳng: đánh cho đất nước sạch bóng quân thù. Nhưng vào Quảng Trị rồi mới thấm cái giá của chiến tranh. Nhìn đồng đội ngã xuống, “lửa căm thù” không còn là khẩu hiệu – nó thành thứ được “chuyển” thẳng lên nòng súng. Trận qua trận, quân số mỏng dần, bữa ăn vội chưa kịp nuốt đã có người nằm lại. Có lúc phải vùi vội đồng đội xuống đất, gạt nước mắt đi mà bước tiếp.
Sau này, ông làm Trưởng ban liên lạc bạn chiến đấu Sư đoàn 325 ở Thanh Hóa. Từ năm 1995, ông cùng anh em còn sống trở lại Quảng Trị: thăm nơi từng chốt giữ, thăm lại bà con từng cưu mang bộ đội bằng củ khoai, củ sắn, bát cơm rau, và những hầm trú “chia lửa” trong trận đánh. Mỗi lần gặp, người ta vừa khóc vừa cười – cái cười của người đã đi qua sinh tử mà vẫn giữ được nhau.
Ông kể, trước ngày tổng công kích 29/4/1975, hướng của Sư đoàn 325 là vượt sông Sài Gòn. Chỉ huy lo lắng vì vượt sông nghĩa là ta ở dưới, địch ở trên bờ, hỏa lực dày. Nhưng rồi cuộc vượt sông diễn ra an toàn. Ngay chiều hôm đó, ông ghi vào nhật ký bốn câu như một lời báo tin gửi mẹ:
“Chiến tranh là sự thật Như vậy đó mẹ ơi Mỹ Ngụy đã tan rồi Con lại về với mẹ…”
Và khi nhắc đến những người đã không thể “về với mẹ”, ông im lặng rất lâu. Bởi với ông, hòa bình hôm nay không phải câu chuyện của một ngày chiến thắng. Nó là cái kết được đổi bằng những phần đời dang dở, bằng những cái tên còn nằm lại đâu đó, chưa kịp trở về trong vòng tay gia đình.



