Ký ức thời chiến chẳng thể nào quên
Trưởng thành từ một thiếu sinh quân liên khu IVÔng Hà Lạc sinh ra trong gia đình có người anh cả là cán bộ giảng dạy trường Lục Quân I, đã sớm hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Bố mẹ cũng lâm bệnh nặng và qua đời từ khi ông còn nhỏ.Tiếp nối tinh thần yêu nước, tinh thần kháng chiến, với khẩu hiệu sục sôi, “Mỗi người dân là một người lính”, “Mỗi nhà là một pháo đài”, “Mỗi làng là một mặt trận”, ông Hà Lạc từ độ tuổi 15 đã vào trường Thiếu sinh quân Liên khu IV để theo học và rèn luyện. Xa gia đình, được sự đùm bọc của đồng đội, bao nhiêu năm tháng ở trường là bấy nhiêu năm sống với tình thương đồng đội sâu sắc.
Bức thư tay ông gửi cho học trò cũ ngày còn dạy ở Vĩnh Linh. Ảnh: Thanh Nga“Tôi nhớ những tối đồng đội chụm đầu dưới ánh sáng chao đèn giấy, khom lưng miệt mài học tập. Trên bãi tập, ai nấy đều hăng say tập luyện. Những người lính Thiếu sinh quân tuổi đời 14, 15 chân đi giày vải, áo vải sợi đôi, mãi là kỷ niệm không thể nào quên” - ông Hà Lạc nhớ về thời gian học tập trong môi trường quân đội.Vài năm cuối trước khi trường giải thể, nhiều lớp đàn anh của ông đã chuyển vào quân chính. Khi giải thể, ông Hà Lạc thuộc diện về công tác ở địa phương theo sự sắp xếp của trường do không đủ điều kiện vào quân chính. Từ năm 1957 đến năm 1959, ông công tác giáo dục tại Nghệ An và được công nhận là chiến sĩ thi đua hai năm liền.“Chắc tay phấn, vững tay súng”Năm 1960, ông Hà Lạc được Bộ Giáo dục biệt phái vào đặc khu giới tuyến Vĩnh Linh (Quảng Trị). Tại đây, ông vừa làm nhiệm vụ giảng dạy vừa trực chiến khi có lệnh. Ông kể, những tháng ngày chiến tranh gian khổ, mùi máu của đồng đội hy sinh, mùi bom đạn, tất cả như còn vẹn nguyện mỗi khi ông nghe nhắc đến vùng đất Vĩnh Linh.Trong kháng chiến chống Mỹ, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị là nơi dòng sông Bến Hải chia cắt giới tuyến chảy qua. Đây vừa là đầu cầu giới tuyến, vừa là tiền đồn miền Bắc xã hội chủ nghĩa và là hậu phương cho chiến trường miền Nam.“Ngày còn chiến đấu ở Vĩnh Linh khốc liệt vô cùng. Nhiều trận mưa bom của không quân Mỹ, pháo hạm đội ngoài biển phóng vào, các ụ vào từ bờ Nam, phóng ra liên tục. Điển hình là trận chiến 4 ngày đêm liên tục từ ngày 20 đến 24.6.1967 tại Vĩnh Quang, Vĩnh Linh.
Túi đựng đồ sơ cứu thời còn ở Vĩnh Linh của ông Hà Lạc. Ảnh: Thanh NgaTại chiến hào chỉ có nước lã và lương khô. Chúng tôi phải lót ni lông vào thúng để dự trữ nước bởi lúc đó cả làng chỉ có một cái giếng nhưng lại bị địch đánh sập. Cả Vĩnh Quang cũng chẳng còn một mái nhà. Tôi và học sinh phải học dưới địa đạo, bao giờ ngừng chiến đấu thì tiếp tục dạy học” - ông Hà Lạc xúc động kể lại.Mưa bom bão đạn là thế, thiếu thốn lương thực thực phẩm là vậy, nhưng ông Hà Lạc vẫn luôn cố gắng hết sức, tận dụng hết thời gian để dạy con chữ cho học sinh. Việc dạy học cũng được tính toán theo quy luật: Khi địch thả bom B52 thì ngừng, địch ngừng thả thì lại tiếp tục học.Tuy nhiên, quân địch thường xuyên đánh tọa độ, điều này làm dân ta không lường trước được. Vậy nên, vùng đất Vĩnh Linh năm đó người chết rất nhiều, sập hầm liên tục, ảnh hưởng đến việc học tập và giảng dạy. Cũng vì chiến tranh liên miên như thế, các em học sinh ở đây ngoài học các môn chính còn được học sơ cứu khi bị thương, mỗi người được cấp một túi thuốc gồm thuốc cảm và thuốc sát trùng. Tất cả đều được quân y ở Vĩnh Linh tập huấn sơ cứu khi bị thương, bị ngạt khi sập hầm.Vĩnh Linh năm ấy khốc liệt và chìm trong khói bom. Hàng nghìn học sinh được chuyển xuống các địa đạo. Khi địch ít bắn phá hơn, ông Hà Lạc đã xin phép cấp trên cho các em cuối cấp tiếp tục học ở nơi an toàn, học cho hết chương trình để thi tốt nghiệp.Gợi lại về miền ký ức ám ảnh thời chiến, ông chia sẻ thêm: “Có đêm tôi cùng giáo viên nhà trường chôn cất các liệt sĩ quân giải phóng từ bờ nam sông Bến Hải chuyển ra. Đêm ấy, đạn pháo và bom B52 rít liên hồi. Chuyển thi thể phải len lách dưới giao thông hào tới chỗ mai táng. Xong nhiệm vụ chúng tôi lại trở về, chuẩn bị cho công tác dạy học hôm sau”.Với phương châm “còn người là còn tất cả”, Vĩnh Linh đã thực hiện chiến dịch di dân có một không ai trong lịch sử. Chiến dịch mang mật danh K.8 đưa 3 vạn học sinh sơ tán ra Bắc. Ông Hà Lạc đã cùng đồng nghiệp dẫn dắt hơn 700 học sinh Vĩnh Quang – Cửa Tùng cùng hành quân trong đội hình măng non bất tử ấy.Lúc làm nhiệm vụ chiến đấu, ông chiến đấu với trái tim người lính rực lửa, hừng hực khí thế. Nhưng khi đứng lớp, ông lại là người thầy ân cần, hết mực thương yêu học trò của mình. Nhiệm vụ song song quả thật không dễ dàng đối với ông.Dạy học từ thời chiến đến thời bìnhSau chiến tranh kết thúc, ông Hà Lạc tiếp tục về Nghệ An dạy học. Ông công tác tại trường cấp III Hưng Nguyên cho đến khi nghỉ hưu. Người lính trường thiếu sinh quân áo vải sợi đôi năm đó giờ đã ngoài 80 tuổi. Ông đã có hơn 40 năm trong ngành Giáo dục, được Nhà nước trao tặng nhiều Huân chương vì sự nghiệp giảng dạy.Khi được hỏi cảm xúc dạy học ở thời chiến so với thời bình, ông mỉm cười và nói: “Thời chiến gian khó là thế nhưng cũng rất hạnh phúc vì các học trò của tôi năm xưa giờ đã trưởng thành và thành công. Có những học trò tôi được gặp lại sau 50 năm kể từ khi kháng chiến ở Vĩnh Linh, thầy trò vui mừng khôn xiết cùng ôn lại kỷ niệm, cảm giác như được sống lại những năm tháng đó. Cả đời cống hiến cho giáo dục, chỉ cần nhìn học trò yêu thương mình như vậy, nỗ lực thành công như vậy là đủ với tôi”.Ký ức về vùng đất lửa Vĩnh Linh, về những ngày dạy học dưới địa đạo thiếu ánh sáng, những ngày ra trận... tất cả đã để lại trong ông, người cựu binh, cựu giáo những kỷ niệm khó phai mờ, vừa đau thương lại vừa đẹp đẽ.



