Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

KÝ ỨC THỜI CHIẾN: NƠI NHỮNG VẾT THƯƠNG NĂM THÁNG VÀ LÒNG KIÊN CƯỜNG CỦA HẬU PHƯƠNG

Có những trang sử không nằm trên những trang giấy khô khan, mà được khắc ghi trọn vẹn qua ánh mắt, giọng kể và những nếp nhăn hằn sâu theo năm tháng của những người trực tiếp đi qua khói lửa chiến tranh. Hôm nay, chúng mình đã có dịp ngồi lại thật chậm, lắng nghe câu chuyện đầy xúc động từ một người bà – nhân chứng sống của một thời kỳ gian khó nhưng vô cùng hào hùng của dân tộc.

Nghệ An27/10/2026Phường Chơn Thành (Đoàn phường Chơn Thành)4 lượt xem0 lượt chia sẻ
KÝ ỨC THỜI CHIẾN: NƠI NHỮNG VẾT THƯƠNG NĂM THÁNG VÀ LÒNG KIÊN CƯỜNG CỦA HẬU PHƯƠNG

Câu chuyện đưa chúng ta ngược dòng thời gian về năm 1972, khi bà mới chỉ là một cô thiếu nữ 14 tuổi. Ký ức tuổi thơ bà là những ngày tận mắt chứng kiến trận tập kích bom đạn kinh hoàng kéo dài 12 ngày đêm tại thủ đô Hà Nội. Nhưng nỗi đau chưa dừng lại ở đó. Tháng 5 năm 1972, khói lửa chiến tranh tiếp tục dội xuống mảnh đất quê hương Quỳnh Minh, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ngày 15 tháng 5 năm 1972 mãi là một vết thương không thể xóa nhòa khi một trận bom tấn tàn phá hơn mười nóc nhà, cướp đi sinh mạng của người em trai nhỏ mới tròn 12 tuổi cùng bao nhiêu người thân trong xóm làng. Giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, những mất mát ấy đã tạc một nỗi đau khôn nguôi vào tâm trí của những người ở lại.

Khi đất nước bước sang giai đoạn chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, tháng 2 năm 1979, người chồng của bà – ông Hồ Văn Tý (sinh năm 1958) – lại gác lại tình riêng để lên đường nhập ngũ. Ông trực tiếp tham gia chiến đấu tại các mặt trận khốc liệt từ Hoàng Liên Sơn rồi chuyển về Hà Tuyên (Hà Giang). Đó là một cuộc chiến vô cùng cam go với tổn thất lớn ở cả hai phía. Trong suốt quãng thời gian đằng đẵng từ năm 1979 đến năm 1983, vì chiến sự quá đỗi căng thẳng, đơn vị không thể gửi thư hay giữ bất kỳ liên lạc nào. Nơi hậu phương, người vợ trẻ chỉ biết ngày đêm ngóng trông trong lo âu và hy vọng, không biết người thương của mình nơi bom đạn sống chết ra sao.

Thế nhưng, chính lòng dũng cảm và sự kiên cường của người phụ nữ Việt Nam đã làm nên một hậu phương vững chắc. Một mình bà ở quê nhà tần tảo sớm hôm, thay chồng phụng dưỡng mẹ già, cày cấy ruộng vườn với niềm tin mãnh liệt rằng: hậu phương có vững thì tiền tuyến mới yên tâm cầm súng. Mãi đến năm 1983, ông mới có đợt phép đầu tiên trở về trong giọt nước mắt vỡ òa của ngày đoàn tụ. Năm 1984, hạnh phúc đơm hoa khi đứa con đầu lòng của ông bà chào đời. Cuộc sống thời bình tiếp tục trải qua nhiều thăng trầm: ông từng đi xuất khẩu lao động tại Đức nhưng phải trở về nước sau 3 tháng. Năm 2000, cả gia đình quyết định chuyển vào miền Nam lập nghiệp, chắt chiu xây dựng cuộc sống mới cho đến khi ông qua đời vào năm 2012 ở tuổi 53 vì bạo bệnh.

Lắng nghe những dòng hồi ức mộc mạc mà đẫm nước mắt ấy, thế hệ trẻ chúng ta càng thấm thía hơn giá trị thiêng liêng của hai tiếng "hòa bình". Độc lập, tự do của ngày hôm nay chưa bao giờ là điều hiển nhiên, mà đã phải đánh đổi bằng máu, mồ hôi, nước mắt và cả tuổi thanh xuân của biết bao thế hệ đi trước. Xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất đến bà và gia đình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn