KÝ ỨC THỜI HOA LỬA: BẢN LĨNH NGƯỜI CHỈ HUY QUA BÃO ĐẠN TRƯỜNG SƠN
KÝ ỨC THỜI HOA LỬA: BẢN LĨNH NGƯỜI CHỈ HUY QUA BÃO ĐẠN TRƯỜNG SƠN
Trong tâm thức của những người lính đi qua thời hoa lửa, ký ức chiến trường không bao giờ phai nhạt theo thời gian. Đối với tôi — Đinh Quốc Việt, sinh năm 1949 — những năm tháng tuổi trẻ không tính bằng giảng đường hay những ước mơ êm đềm, mà tính bằng những mét đường hành quân, những trận đánh sinh tử và trách nhiệm thiêng liêng của một người chỉ huy trên vai mang vận mệnh của hàng trăm đồng đội.
Năm 1967, khi vừa tròn 18 tuổi — lứa tuổi đẹp nhất của đời trai, tôi nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, xếp bút nghiên để khoác lên mình màu áo lính. Đó là giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào thời kỳ cam go và khốc liệt nhất. Bước chân vào quân ngũ, tôi mang theo nhiệt huyết sục sôi của thế hệ "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước / Mà lòng phơi phới dậy tương lai".
Trong suốt hành trình chiến đấu, năm 1972 đã trở thành một dấu ấn rực lửa, một cột mốc không bao giờ quên trong cuộc đời binh nghiệp của tôi. Đó là năm của những chiến dịch khốc liệt nhất trên khắp các mặt trận, từ mùa hè đỏ lửa Quảng Trị đến những tọa độ bom cày đạn xới dọc tuyến đường Trường Sơn. Giữa làn mưa bom bão đạn, từ một người chiến sĩ mộc mạc, tôi được tôi luyện, trưởng thành và được tin tưởng giao trọng trách chỉ huy (dt - Đại đội trưởng / Tiểu đoàn trưởng).
Là một người chỉ huy trận địa, áp lực trên vai tôi vô cùng nặng nề. Mỗi mệnh lệnh tấn công, mỗi phương án tác chiến được đưa ra không chỉ quyết định thành bại của trận đánh, mà còn quyết định đến xương máu của anh em chiến sĩ. Tôi đã cùng đồng đội nếm trải những đêm dài thức trắng bên bản đồ tác chiến dưới hầm chữ A, những trận đánh giáp lá cà nghẹt thở, và cả những giọt nước mắt lặng thầm khi tiễn biệt những người đồng chí trung kiên mãi mãi nằm lại bên chiến hào. Chính sự gan góc, kiên cường và tình đồng đội keo sơn đã giúp chúng tôi đứng vững, vượt qua ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết để đi đến ngày toàn thắng năm 1975.
Sau khi đất nước hòa bình, tôi tiếp tục ở lại phục vụ trong quân đội, đóng góp công sức vào công cuộc bảo vệ biên cương và xây dựng lực lượng. Trải qua hơn 20 năm cống hiến, tôi được phong quân hàm Đại úy (1//). Đến năm 1989, tôi chính thức hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng với màu áo lính và chuyển ngành hoặc xuất ngũ trở về hậu phương. Tôi tiếp tục cống hiến năng lực của mình ở môi trường dân sự thêm một năm, trước khi khép lại toàn bộ chặng đường công tác vẻ vang vào năm 1990.
Giờ đây, khi mái đầu đã bạc trắng, ngồi lật xem những tấm huân chương chiến công ngả màu thời gian, tôi thầm tự hào vì mình đã sống một thời tuổi trẻ trọn vẹn, không hoài phí. Bản lĩnh của người chỉ huy Đinh Quốc Việt năm nào sẽ mãi là tấm gương sáng, là niềm tự hào sâu sắc để con cháu noi theo, tiếp bước xây dựng quê hương trong thời bình.



