KÝ ỨC THỜI HOA LỬA - NGƯỜI LÍNH GIÀ TRÊN MẢNH ĐẤT THÀNH ĐỒNG TỔ QUỐC
Họ và tên: Nguyễn Thị Lý
Lớp: ĐHCQ 20B
Mã sinh viên: 2400587
Ngành Điều dưỡng- Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
BÀI DỰ THI
KÝ ỨC THỜI HOA LỬA - NGƯỜI LÍNH GIÀ TRÊN MẢNH ĐẤT THÀNH ĐỒNG TỔ QUỐC
Thời gian lặng lẽ trôi qua như dòng sông cuồn cuộn phù sa, cuốn đi bao lớp bụi của năm tháng nhưng không thể nào xóa nhòa đi những ký ức hào hùng của một thời "nếm mật nằm gai". Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, những chiến hào năm xưa giờ đã được thay bằng những con đường nhựa phẳng lì, những bãi mìn ngày ấy giờ đã thành những cánh đồng lúa trĩu bông. Nhưng đâu đó trên mảnh đất hình chữ S thân yêu này, vẫn còn những nhân chứng sống, những "chứng nhân lịch sử" mang trong mình hơi thở của thời đại máu lửa. Họ là những người đã đi qua cuộc chiến, đã nếm trải cay đắng ngọt bùi, đã cống hiến tuổi thanh xuân và cả một phần thân thể cho nền độc lập của dân tộc. Và với tôi, nhân vật mà tôi may mắn được gặp gỡ, lắng nghe những câu chuyện lịch sử là bác Nguyễn Văn Thành – một cựu chiến binh từng trực tiếp tham gia chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị khốc liệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cuộc đời bác như một cuốn phim dài về lòng yêu nước, về ý chí kiên cường và về những mất mát mà chiến tranh để lại, để mỗi khi nhắc đến, lòng tôi lại bồi hồi xúc động và tự hào vô hạn.
Bác Nguyễn Văn Thành sinh năm 1947 tại một làng quê nghèo thuộc huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh – mảnh đất "địa linh nhân kiệt", nơi sản sinh ra nhiều bậc anh hùng hào kiệt và cũng là vùng quê lam lũ quanh năm "đói kéo dài, nghèo kéo dài". Gia đình bác có sáu anh chị em, bác là con trai cả trong một gia đình nông dân nghèo nhưng giàu lòng yêu nước. Cha bác là bộ đội thời kháng chiến chống Pháp, mẹ bác là cơ sở cách mạng nuôi giấu cán bộ trong làng. Lớn lên trong những năm tháng đất nước còn chia cắt hai miền, tuổi thơ của bác gắn liền với những câu chuyện kể về cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, về những người con ưu tú của quê hương đã lên đường tòng quân giết giặc. Ngọn lửa yêu nước từ thuở ấu thơ đã âm thầm cháy trong trái tim cậu bé Thành, để rồi khi lớn lên, chứng kiến cảnh quê hương bị tàn phá bởi bom đạn kẻ thù, bác càng thôi thúc khát vọng được cầm súng bảo vệ Tổ quốc.
Những năm tháng tuổi trẻ của bác trôi qua trong đói khổ và mất mát. Năm lên 10 tuổi, bác chứng kiến cảnh giặc Pháp càn quét làng, đốt phá nhà cửa, giết hại dân lành. Năm 17 tuổi, bác chứng kiến cảnh máy bay Mỹ trút bom xuống cánh đồng quê hương khiến bao người thiệt mạng. Những hình ảnh đau thương ấy đã khắc sâu vào tâm trí của chàng trai trẻ, hun đúc trong bác ý chí căm thù giặc và quyết tâm lên đường nhập ngũ để trả thù cho quê hương, cho đồng bào.
Năm 1965, khi vừa tròn 18 tuổi, bác Thành cùng với nhiều thanh niên trong làng viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Trong lá đơn ngày ấy, bác viết: "Con nguyện đem xương máu của mình để bảo vệ từng tấc đất quê hương, để cha mẹ, vợ con và đồng bào được sống trong hòa bình, độc lập". Lý do bác tham gia cách mạng thật giản dị mà cao cả biết bao! Không phải vì danh vọng, không phải vì lợi ích cá nhân, mà đơn giản là tình yêu quê hương đất nước, là trách nhiệm của một người con đối với Tổ quốc lâm nguy. Bác từng tâm sự: "Ngày ấy, bọn tôi ra đi với hai bàn tay trắng, không có gì ngoài trái tim nóng hổi và lòng căm thù giặc sâu sắc. Ai cũng nghĩ rằng đi là sẽ không trở về, nhưng không ai nao núng. Thanh niên thời đó, chưa lấy vợ đã xung phong đi bộ đội, có người mới cưới vợ được vài hôm cũng gác lại hạnh phúc riêng tư lên đường nhập ngũ. Với chúng tôi, độc lập của dân tộc là trên hết!"
Sau ba tháng huấn luyện tại tỉnh Thanh Hóa, bác được biên chế vào Trung đoàn 27, Sư đoàn 320B – một trong những đơn vị chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam, sẵn sàng hành quân vào Nam chiến đấu. Ngày chia tay gia đình, mẹ bác ôm chầm lấy con trai mà nước mắt rơi lã chã, bà chỉ kịp nói: "Đi mạnh giỏi nhé con! Mẹ ở nhà cầu trời cho con luôn bình an". Cha bác – một người lính già từng qua hai cuộc chiến – chỉ im lặng vỗ vai con trai rồi quay mặt đi để giấu những giọt nước mắt. Bác nhớ mãi cái siết tay thật chặt của cha, như trao lại cho con trai cả trọng trách của gia đình, của dòng họ và của quê hương.
Hành trình vào Nam của bác và đồng đội kéo dài sáu tháng trời xuyên qua dãy Trường Sơn hùng vĩ. Những cung đường Trường Sơn ngày ấy không chỉ là những con đường mòn quanh co, hiểm trở mà còn là "túi bom", "tọa độ chết" mà máy bay Mỹ ngày đêm đánh phá. Bác kể, những ngày đầu hành quân, bộ đội ta phải mang vác nặng từ 30-40kg gồm quân trang, quân dụng, lương khô, thuốc men và vũ khí. Có những đoạn đường phải vượt qua dốc cao vút, có những đêm phải bò lết dưới mưa bom bão đạn để vượt qua trọng điểm đánh phá của địch.
"Đêm hành quân nhìn lên trời thấy máy bay địch như đàn đom đóm, nghe tiếng bom nổ ầm ầm như sấm động. Mỗi lần máy bay đến, chúng tôi phải nằm im bất động, nín thở, nghe từng tiếng bom rơi gần xa. Có những đồng đội ngã xuống ngay bên cạnh mình, nhưng không được phép dừng lại, không được phép khóc. Chiến trường là vậy, mất mát là chuyện thường tình. Chỉ biết gạt nước mắt, tiếp tục bước về phía trước", giọng bác trầm xuống khi nhắc về những kỷ niệm đau thương trên đường hành quân.
Đầu năm 1968, đơn vị của bác có mặt tại chiến trường Quảng Trị – vùng đất được mệnh danh là "túi thư hùng" của cuộc chiến tranh Việt Nam. Nơi đây, những trận đánh ác liệt nhất đã diễn ra, giành giật với địch từng tấc đất, từng ngôi làng. Bác Thành được phân công làm nhiệm vụ liên lạc của Tiểu đoàn – một nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm bởi phải di chuyển liên tục giữa các đơn vị trong làn đạn của kẻ thù.
Trận đánh mà bác nhớ nhất và cũng là trận đánh để lại nhiều ám ảnh nhất trong cuộc đời quân ngũ của bác là trận chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Khi đó, đơn vị bác được lệnh tử thủ giữ từng mét vuông Thành cổ trước làn mưa bom bão đạn của địch. "81 ngày đêm khói lửa, 81 ngày đêm không ngủ. Mặt đất nóng ran vì bom đạn, cây cối trụi hết lá, xác giặc chất thành đống. Đồng đội tôi ngã xuống như ngả rạ. Có những trung đội chiến đấu đến người cuối cùng. Điện đài thì bị hỏng hết, liên lạc với chỉ huy bị gián đoạn. Nhưng không ai bỏ chạy, không ai đầu hàng. Tất cả đều thề sống chết với Thành cổ, với mảnh đất Quảng Trị thân yêu", bác kể lại với đôi mắt đỏ hoe.
Trong vô vàn những kỷ niệm chiến tranh, bác Thành nhớ mãi về người đồng đội tên là Lê Văn Hùng – quê ở Nghệ An. Hùng bằng tuổi bác, là một chàng trai hiền lành, tốt bụng, hay hát và thường động viên anh em trong những lúc khó khăn nhất. Hôm ấy, giữa trưa nắng như đổ lửa, tiểu đoàn nhận lệnh phản kích để giành lại một điểm cao chiến lược. Địch bố trí hỏa lực dày đặc, máy bay B-52 liên tục trút bom xuống trận địa của ta. Trong lúc đang di chuyển, một quả đạn pháo bất ngờ rơi xuống gần chỗ Hùng đang nấp. Không một chút do dự, Hùng lao ra che chắn cho bác và một số đồng đội khác.
"Mảnh đạn găm vào ngực nó. Nó gục xuống ngay trong vòng tay tôi. Máu từ ngực nó chảy ra ướt đẫm áo tôi. Nó chỉ kịp nhìn tôi, mấp máy môi như muốn nói điều gì đó rồi tắt thở. Tôi gào lên gọi tên nó nhưng nó không tỉnh lại nữa. Tôi ôm xác nó giữa chiến trường khói lửa mà khóc như chưa bao giờ được khóc. Mới hôm qua, nó còn khoe với tôi rằng khi hòa bình lập lại, nó sẽ về quê cưới vợ, làm ruộng, nuôi mẹ già. Vậy mà...", nước mắt bác lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo, thâm sạm vì năm tháng.
Sau trận đánh đó, bác Thành được lệnh phải đưa thi thể Hùng về nơi an nghỉ cuối cùng dưới một gốc cây cổ thụ trong rừng. Không có ván, không có quan tài, không có hương khói, chỉ có những vòng hoa rừng tự tay đồng đội kết lại và một nấm mồ đắp vội. "Tôi hứa với nó rằng nếu còn sống, ngày nào đó tôi sẽ tìm lại nơi này, đưa nó về với quê hương. Nhưng chiến trường thay đổi quá nhiều, bom đạn xới tung mọi thứ. Mãi sau này, tôi có quay lại tìm nhưng không thấy. Nó nằm lại mãi ở mảnh đất Quảng Trị này rồi", giọng bác nghẹn ngào.
Hòa bình lập lại năm 1975, bác Thành xuất ngũ trở về quê hương trong niềm vui chiến thắng của dân tộc, nhưng trong lòng chất chứa bao nỗi đau mất mát. Trên cơ thể bác, ngoài những vết thương do mảnh đạn còn sót lại, còn có một vết thương khác khó lành hơn – đó là vết thương tinh thần. Hàng đêm, bác vẫn thường thức giấc giữa đêm khuya vì những cơn ác mộng, vì tiếng bom đạn vẫn văng vẳng đâu đây. Bác kể, những năm đầu sau chiến tranh, mỗi khi nghe tiếng pháo hoa hay tiếng nổ lớn, bác lại giật mình, toát mồ hôi, tưởng như mình vẫn còn ở chiến trường.
Sau khi trở về, bác lập gia đình với một cô gái cùng làng – người đã đợi bác suốt mười năm ròng. Cuộc sống thời hậu chiến vô cùng khó khăn. Với thương tật 3/4, sức khỏe giảm sút, nhưng bác vẫn cố gắng lao động sản xuất, xây dựng gia đình. Những ngày đầu, vợ chồng bác phải ở trong căn nhà tranh vách đất tạm bợ, làm ruộng khoán, tăng gia sản xuất để nuôi các con ăn học. Bàn tay từng cầm súng nay cầm cuốc, bác vẫn cần mẫn, chăm chỉ trên cánh đồng quê hương.
Nhưng chiến tranh vẫn chưa buông tha bác. Những di chứng của chất độc da cam từ những năm tháng chiến đấu trong rừng sâu khiến đứa con đầu lòng của bác sinh ra bị dị tật bẩm sinh. Đó là cú sốc lớn nhất với gia đình bác. Bao năm trời, hai vợ chồng bác tảo tần, chạy chữa khắp nơi để mong con khỏe mạnh như bao đứa trẻ khác. "Tôi đã khóc rất nhiều vì con. Có những lúc tôi tự hỏi, mình đã hy sinh tuổi thanh xuân, đã chứng kiến bao đồng đội ngã xuống, vậy mà ông trời vẫn không thương, vẫn để con mình chịu cảnh tật nguyền. Nhưng rồi nghĩ lại, còn bao đồng đội của tôi đã nằm lại chiến trường, không có cơ hội được làm cha, được thấy con cái khôn lớn. So với họ, tôi còn may mắn hơn nhiều. Nghĩ vậy, tôi lại có thêm nghị lực để sống, để vươn lên", bác tâm sự.
Năm nay đã gần 80 tuổi, bác Thành sống cùng người con thứ hai trong căn nhà nhỏ nhưng ấm cúng tại quê nhà. Mái tóc đã bạc trắng nhưng đôi mắt bác vẫn sáng, nụ cười vẫn tươi. Hàng ngày, bác dậy sớm tập thể dục, chăm sóc vườn cây, ao cá. Bác còn tham gia Hội Cựu chiến binh xã, tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ.
Điều đáng quý nhất ở bác là tinh thần lạc quan, yêu đời. Dù cơ thể đau nhức mỗi khi trái gió trở trời, dù những vết thương lòng vẫn chưa hoàn toàn nguôi ngoai, nhưng bác luôn sống vui vẻ, chan hòa với mọi người. Bác thường nói với con cháu: "Sống phải biết hướng về phía trước. Quá khứ là để nhớ, để tự hào, để nhắc nhở, nhưng không phải để dày vò bản thân. Các con may mắn sinh ra trong thời bình, hãy sống sao cho xứng đáng với những hy sinh của thế hệ cha anh".
Bác còn là "kho tư liệu sống" của làng. Những dịp lễ, Tết hay ngày kỷ niệm, các trường học, đoàn thanh niên lại đến nhà mời bác nói chuyện. Bác say sưa kể về những năm tháng hào hùng, về những trận đánh oanh liệt, về những đồng đội đã ngã xuống. Giọng bác lúc trầm lúc bổng, có khi vui tươi khi nhớ về chiến thắng, có khi nghẹn ngào khi nhắc về mất mát. Nhưng điều đọng lại sau mỗi câu chuyện của bác là niềm tự hào về dân tộc, là tình yêu quê hương đất nước và là bài học sâu sắc về lòng biết ơn đối với thế hệ đi trước.
Gặp bác Thành và lắng nghe những câu chuyện của bác, tôi như được sống lại những năm tháng lịch sử hào hùng của dân tộc. Mỗi câu chuyện của bác là một bài học lịch sử sống động, một minh chứng hùng hồn cho tinh thần bất khuất, kiên cường của dân tộc Việt Nam. Qua những lời kể của bác, tôi hiểu rằng chiến thắng vĩ đại của dân tộc không phải tự nhiên mà có, đó là kết tinh từ xương máu, mồ hôi và nước mắt của hàng triệu người con ưu tú đã ngã xuống, của hàng triệu người mẹ đã cống hiến cả đời mình cho cách mạng.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, những người sinh ra và lớn lên trong hòa bình, độc lập, việc hiểu và trân trọng lịch sử dân tộc là vô cùng quan trọng. Lịch sử không chỉ là những trang sách khô khan, những con số thống kê, mà còn là những câu chuyện đầy cảm xúc như câu chuyện của bác Thành. Những hy sinh, mất mát của thế hệ cha anh là vô giá, là nền tảng vững chắc cho hòa bình, độc lập mà chúng ta đang thụ hưởng ngày nay. Vì vậy, mỗi chúng ta cần phải sống sao cho xứng đáng với những hy sinh ấy, phải ra sức học tập, rèn luyện, lao động để góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu như lời Bác Hồ hằng mong ước.
Ký ức chiến tranh của bác Thành và những người lính già năm xưa mãi mãi là những bản hùng ca bất diệt, là ngọn đuốc soi sáng cho thế hệ hôm nay và mai sau trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tôi sẽ luôn ghi nhớ và trân trọng những câu chuyện lịch sử quý báu này, và sẽ kể lại cho bạn bè, cho thế hệ sau cùng nghe, để ngọn lửa yêu nước mãi cháy sáng trong trái tim mỗi người con đất Việt.



