KÝ ỨC THỜI HOA LỬA - ÔNG HAI MINH THÀNH
“Câu chuyện thời hoa lửa” hào hùng được chia sẻ từ chính người trong cuộc - Ông hai Minh Thành - ký ức sống mãi với thời gian đã góp phần lan tỏa tình yêu quê hương, giáo dục truyền thống cách mạng đến thế hệ trẻ.

Ký ức thời hoa lửa - Ông hai Minh Thành
Ôn chuyện xưa, chia sẻ cách dạy cháu con hay kinh nghiệm sản xuất,... Đó là những câu chuyện thường nhật được Ông hai Minh Thành tâm tình trên mỗi bàn trà sáng. Chính sự vui sống, lạc quan, làm gương cho cháu con mà với tôi, Ông nội - Ông hai Minh Thành, sinh năm 1950, khóm An Nghiệp, phường Mỹ Trà, tỉnh Đồng Tháp, người truyền cho tôi nhiều động lực và là nhân chứng lịch sử tôi nghĩ đến đầu tiên khi đặt bút ghi lại “Câu chuyện thời hoa lửa”.
Đồng chí Võ Minh Thành
Tình hình cách mạng miền Nam trong những năm 1958 - 1959 có nhiều chuyển biến quan trọng, phong trào cách mạng dâng cao, vùng căn cứ giải phóng của ta được mở rộng. Song, Mỹ - Ngụy mở nhiều chiến dịch hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng, chúng tổ chức mạng lưới do thám, chỉ điểm, công dân vụ dày đặc hòng bủa lưới bắt cán bộ, phát hiện chỗ đóng quân của các cơ quan, bộ đội ta. Trước tình hình đó, công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ các lực lượng cách mạng trở nên khó khăn, phức tạp và thử thách. Xác định công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ các cơ quan Tỉnh uỷ là vấn đề quan trọng, quyết định sự sống còn của cách mạng. Quán triệt Chỉ thị của Trung ương Cục, Ban An ninh tỉnh Kiến Phong đã tăng cường lực lượng bảo vệ cơ quan Tỉnh uỷ. Ngày 27/9/1959, đơn vị bảo vệ khu căn cứ Tỉnh uỷ (C279) được thành lập, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.
Ông bắt đầu tham gia bộ đội địa phương quân Cao Lãnh từ tháng 4/1967.
Tôi hỏi:
- Động lực nào Ông tham gia cách mạng khi tuổi còn nhỏ? Ai là người giới thiệu Ông tham gia cách mạng?
Ông bảo:
- Chứng kiến Mỹ - Ngụy đàn áp, cô lập lực lượng cách mạng, ngăn chặn chi viện nhằm tiêu diệt căn cứ cách mạng thông qua “Ấp chiến lược”. Ông đang học lớp nhị ngũ, quyết định bỏ học để tham gia cách mạng, cha mẹ không biết. Đến khi Ông tham gia trận đánh đồn Cả Vừng, xã Nhị Mỹ (nay là phường Mỹ Trà, tỉnh Đồng Tháp) thì cha mẹ mới biết Ông tham gia cách mạng.
- Bác Lê Văn Xưa, Nguyên Chánh Văn phòng, Công an tỉnh Đồng Tháp giới thiệu Ông tham gia cách mạng. Ông nhìn thấy tấm gương ông cố của cháu - Ông Võ Văn Hích, sinh năm 1928, tham gia cách mạng năm 1958 nên Ông quyết định tham gia cách mạng khi chỉ mới17 tuổi. Ông cố của cháu đã nhận Huy hiệu 45 năm tuổi Đảng. Cháu phải tự hào và phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang của gia đình.
Ngày 06/01/1968, Ông công tác tại lực lượng an ninh vũ trang, Công an tỉnh Đồng Tháp. Ngày 25/6/1969, Ông được rút về làm chiến sĩ đơn vị C279. Năm 1970, Ông làm Tiểu đội phó, đơn vị C279. Năm 1972, Ông làm Tiểu đội trưởng, Trung đội phó, đơn vị C279. Năm 1975, Ông làm Trung đội trưởng, đơn vị C279.
Trong kháng chiến, đơn vị C279 phối hợp với Tiểu đoàn 502 bao vây các đồn bốt của địch, đồn Gốc Khế, đồn Rạch Mướp, đồn Xáng Phèn, đồn 307,... Ông đảm nhận nhiệm vụ vừa là chiến sĩ vừa là y tá. Ông bảo: “Kháng chiến khó khăn, lãnh đạo phân công nhiệm vụ gì cũng làm. Quan trọng là chiến đấu để đất nước được giải phóng.”
Quân địch biết có quân cách mạng đang hoạt động nên nhiều lần không dám đưa quân vào đánh chiếm căn cứ. Ông kể: “Do có chỉ điểm nên quân địch phát hiện khu căn cứ, đổ quân ngoài bãi ngù (nơi quân ta gài lựu đạn) hòng đánh chiếm căn cứ của ta nhưng không vào được. Bởi vì rừng tràm rậm rạp, nhiều chông, mìn, cạm bẫy, 08 đến 09 tuyến lựu đạn được ta bố trí dày đặc ở vòng ngoài nên quân địch dùng xe tăng, máy bay bắn từ ngoài vào căn cứ nhằm thăm dò tình hình. Một số tên đi đầu đến được bìa rừng mà không dám đi tiếp và “báo cáo láo” về Chỉ huy của chúng là nơi đây không có ai, nhà cửa đầy đủ, nhiều mạng nhện, Việt Cộng đã bỏ đi hết rồi và chúng nhận được lệnh rút quân”. Năm 1968, tại căn cứ Xẻo Quít, Tỉnh uỷ đã lãnh đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đánh vào thị xã Cao Lãnh, đánh chiếm hàng chục đồn bốt, giải phóng hoàn toàn 06 xã, góp phần buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi đàm phán ở Hội nghị Paris. Khi Hiệp định Paris có hiệu lực, Mỹ không thi hành mà mở nhiều cuộc càn quét, đánh phá để lấn chiếm, xóa các vùng căn cứ của ta. Chúng bắn phá căn cứ ở xã Phương Thịnh, Ba Sao, Mỹ Thọ, Nhị Mỹ, Bình Hàng Trung,... Chúng còn phá hoại mùa màng, vơ vét lúa gạo, ngăn cấm bà con trở về ruộng, vườn cũ khôi phục sản xuất “tiếp tế cho Việt Cộng”.
Xuất phát từ tình hình đó, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Kiến Phong ra Nghị quyết: “Phát động quần chúng Nhân dân tấn công địch 03 mũi, kết hợp pháp lý theo phương châm mới trong tình hình có Hiệp định Paris”. Tỉnh uỷ phân công các đồng chí uỷ viên Ban Thường vụ, Tỉnh uỷ viên xuống cùng các huyện, xã phổ biến chủ trương của Tỉnh, chuẩn bị mọi mặt để đối phó chống lại các âm mưu, hành động của địch.
Đơn vị C279 có 03 Trung đội, khoảng 60 đồng chí. Chỉ huy Trung đội của Ông là đồng chí Nguyễn Văn Nhì (Minh Tấn). Tổ trinh sát ngoại tuyến đặc biệt của đơn vị có đồng chí Nguyễn Thanh Mung (Tà Mung) với đồng chí Bé Sáu có nhiệm vụ bảo vệ hành lang căn cứ, nắm tin và theo dõi đài địch, được trang bị máy điện đàm PRC25 để báo tin về tình hình của địch. Ngày 29/02/1970, đồng chí Bé Sáu báo tin địch đang tấn công giải tỏa đồn Rạch Mướp, Ông được phân công cùng đồng đội bao vây trận diện đồn bốt để Tiểu đoàn 502 đánh địch. Từ 23 giờ đến 03 giờ, Ông cùng với đồng đội đào công sự. Khoảng 08 giờ, lính đồn đi vào phía bên sông (Chỉ huy trưởng, Chỉ huy phó và 02 lính truyền tin) bơi xuồng cặp sát công sự của đồng chí Nguyễn Hoài Thu (công sự đầu tiên của ta). Lúc này, đồng chí Nguyễn Hoài Thu nổ súng, loạt đạn đầu tiên bắn chết Chỉ huy trưởng, Chỉ huy phó và 02 lính truyền tin. Quân địch cho máy bay đổ quân xuống 01 Đại đội, khoảng 100 quân lính; trong khi đó, quân ta chỉ có 09 đồng chí. Quân địch dùng chiến thuật tập trung lực lượng đánh từ bờ sông đánh lên, không đánh từ ngoài đồng trống vào (công sự của Ông), nổ súng liên tục và tấn công quyết liệt vào 02 công sự đầu tiên của quân ta. Ông cùng đồng đội bắn hỗ trợ cho 02 công sự này. Khoảng 15 giờ, quân địch rút ra ngoài bờ sông, cách công sự khoảng 300m. Khoảng 17 giờ, trực thăng của địch đảo lượn kiểm soát, 02 chiếc máy bay AĐ6 bỏ trái khói, bắn pháo hiệu bỏ bom và chiếc L19 của địch phóng điểm. Tổ truyền tin báo về đồng chí Nguyễn Hoài Thu đã chết, đồng chí Hà Thanh Tích may mắn còn sống nhưng bị thương. Ông thu về được 02 máy điện đàm PRC25, 01 bản đồ và 02 khẩu súng Colt 45, được đồng chí Tám Mai - Tỉnh Đội trưởng biểu dương tại trận địa trong khi đang chiến đấu gay go.
Ở công sự, đồng chí Bùi Hoàng Nam bị thương, gãy tay nên Ông băng vết thương. Sau đó, đồng chí Nguyễn Thanh Hồng bị thương. Ông băng vết thương và nói với đồng chí Thanh Hồng: “Anh với Hoàng Nam bị thương, ra phía sau công sự để tôi thủ phía trước”. Ông vừa bước ra phía trước, đồng chí Bảy Hải báo tin: “Hoàng Nam bị thương nữa rồi anh Minh Thành”. Ông chạy ra phía sau công sự nhìn thấy đồng chí Hoàng Nam bị đuôi mắt, trong 01 ngày bị thương 02 lần. Ông chia sẻ: “Thời chiến tranh, quân ta chưa vác súng chiến đấu là đã bị thương bởi bom đạn của quân địch, vũ khí của quân địch mạnh”. Ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh. Ông và đồng đội chỉ biết anh dũng chiến đấu vì hòa bình, độc lập của dân tộc.
Quân địch tiếp tục tấn công vào công sự của đồng chí Hà Thanh Tích, bắn súng phóng lựu M79 cùng các loại máy bay trực thăng: cá lẹp, cá nóc. Ông bắn hỗ trợ cho đồng chí Thanh Tích. 05 giờ, đồng chí Minh Tấn ra lệnh cho quân ta rút vì quân địch đã bị bắn tiêu diệt. Ông cõng đồng chí Hoàng Nam đang bị thương và vác túi cứu thương, 02 khẩu súng AK, 02 cặp túi đạn về đến căn cứ an toàn. Đó là tình đồng chí, đồng đội. 07 giờ, Ông cùng đồng đội đi tìm xác đồng chí Nguyễn Hoài Thu. Đồng chí chết vì bom dầu của quân địch, bị cháy quéo. Ông cùng đồng đội khiêng về, đào đất chôn tạm đồng chí Hoài Thu ở mảnh đất phía sau căn cứ.
Sau đó, Ông và đồng chí Hà Thanh Tích được đồng chí Minh Tấn phân công tìm xác của 01 đồng chí du kích bị bắn chết vào ngày 26/02/1970. Giặc đổ quân sáng, đêm. Ông cùng với đồng chí Thanh Tích đi trên đường gặp lựu đạn của địch bỏ sót cũng nhặt, bơi dưới sông gặp trái B40 cũng nhặt. Trong quá trình di chuyển, trời mưa to, đồng chí Thanh Tích bị len đào công sự xoắn vào đùi, Ông dừng lại băng vết thương. Đồng chí Thanh Tích nói: “Em không sao đâu anh Minh Thành. Em còn đi được.”
06 giờ, Ông và đồng chí Thanh Tích đi bộ về đến Cái Lân, không biết quân địch đổ quân gần trinh sát Tỉnh Đội cách 300m. Đi 01 ngày, 01 đêm không ăn uống, Ông và đồng chí Thanh Tích đều đói. Vết thương của đồng chí Thanh Tích hành nhứt, chảy máu. Ông nói với đồng chí Thanh Tích: “Anh em mình tìm công sự để ẩn nấp đề phòng máy bay của địch bắn pháo”. Ông vừa bước ra phía trước công sự, lựu đạn gài của trinh sát Tỉnh Đội bất ngờ nổ. 10 giờ, ngày 01/3/1970, Ông bị thương. Đồng chí Thanh Tích hô hoán: “Cứu. Cứu. Anh Minh Thành bị thương”. Khoảng nữa tiếng sau, trinh sát Tỉnh Đội nghe tiếng lựu đạn nổ là biết dân, bộ đội bị thương và tìm đến. Một trinh sát nói: “Các anh may mắn, nếu bước thêm 02 bước nữa thì 02 trái lựu đạn tiếp tục nổ”. Từ 07 giờ đến 20 giờ, đồng đội đưa Ông và đồng chí Thanh Tích về đến căn cứ an toàn.
Cơ thể của Ông có 25 mảnh đạn ở tay, lưng, chân, đùi. Ông chỉ tôi xem các tấm phim chụp X-quang, chi chít những đốm trắng, được giải thích là 25 mảnh đạn trong cơ thể. Các mảnh đạn sắc nhọn đang ngày ngày cứa vào da thịt, chèn lên gân, lên động mạch. Chạm tay lên người Ông, tôi cảm nhận được chúng nhô lên rõ mồn một. Chiến tranh gây ra nhiều đau thương, không chỉ là những vết thương trên da mà còn là những ám ảnh tâm lý. Ông được công nhận là thương binh hạng 4/4 và hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đó là những vết thương thời hoa lửa - “ký ức nhớ mãi”.
Tiếp tục trận đánh ở Kênh 1, Ông cùng đồng đội bao vây, chi viện cho Tiểu đoàn 502 giải cứu đồn Gốc Khế. Quân ta chủ động bao vây đánh địch trong 03 ngày; đến ngày thứ tư, địch bị bắn chết tại đồn. Lãnh đạo trận đánh này là đồng chí Minh Tấn, phân công Ông và đồng chí Quyết Tiến nữa đêm bơi qua sông, còn đồng đội ở bên đây bờ sông chi viện, 02 người vác 03 khẩu súng AK, súng phóng lựu M79 bơi qua sông, đối diện đồn địch. Qua ngày hôm sau, có 01 Trung đội giả chiến đóng quân bên ngoài đồn địch. Phía trước đồn địch cách 100m có 01 công sự nhà dân bỏ trống, Ông và đồng chí Quyết Tiến vào ẩn nấp. Khoảng 08 giờ, Ông phát hiện quân địch kéo xuống tấn công quân ta. Ông nói với đồng chí Quyết Tiến: “Nó tới rồi nha Tiến, để tao bắn”. Ông bắn tỉa chết 01 tên lính. Đồng chí Quyết Tiến cặp theo súng phóng lựu M79 bắn liên tục, quân địch rút lui. Kết quả đã bắn chết 03 người (01 sĩ quan, 01 lính và 01 truyền tin). Tối đêm đó, đồng chí Thanh Hùng bơi qua sông thông báo cho Ông và đồng chí Quyết Tiến rút về căn cứ. Ông thu về 01 tấm bản đồ và 01 khẩu súng ngắn. Ông xúc động chia sẻ: “Trận này, lịch sử gay go, 02 người 03 khẩu súng, chiến đấu đối diện đồn địch, nếu địch tấn công quyết liệt chỉ có chết”.
Tôi hỏi: “Ông có sợ chết không ạ?”
Ông cười bảo: “Không. Đã xác định tham gia kháng chiến thì không sợ chết.”
Câu trả lời khẳng định ý chí sắt đá, sự kiên cường và tinh thần sẵn sàng hy sinh của những người lính cách mạng từng vào sinh ra tử năm xưa.
Khu di tích Xẻo Quít thuộc xã Mỹ Hiệp, tỉnh Đồng Tháp góp phần cùng với cả nước làm nên chiến thắng lịch sử 30/4/1975. Năm nay, dù đã 75 tuổi nhưng mỗi dịp 30/4 hằng năm trở lại thăm “Khu căn cứ lòng dân”, lắng nghe hơi thở lịch sử, sống cùng ký ức lịch sử quê hương, Ông vẫn nhớ như in một thời chiến đấu oanh liệt nhưng thắm đượm nghĩa tình quân dân.
Tôi thắc mắc hỏi Ông:
- Vì sao Ông lại gọi căn cứ Xẻo Quít là “khu căn cứ lòng dân”?
Ông cười bảo:
- Trong thời chiến, cuộc sống của người dân gian nan, cực khổ. Khu vực nào cũng vậy. Mỗi đồng chí chỉ được cấp 02 bộ đồ, phải tự túc về lương thực trong thời gian 06 tháng, tài chính không có để cấp. Ông cùng với đồng đội tự giăng câu tìm cá, rau để ăn và nhờ người dân sống ở xung quanh kênh Nguyễn Văn Tiếp, Bà Phủ, Xáng Phèn mua đồ gửi vào. Nhờ có sự ủng hộ cách mạng, che chở và đùm bọc của người dân xung quanh khu căn cứ Xẻo Quít nên cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thành công.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Đơn vị C279 có khoảng 60 đồng chí. Hiện nay, số ít đồng chí còn sống: Đồng chí Nguyễn Thành Xuân, tên thường gọi Bảy Xuân (xã Mỹ Hiệp, tỉnh Đồng Tháp), đồng chí Nguyễn Văn Trung, tên thường gọi Bé Tư (xã Mỹ Thọ, tỉnh Đồng Tháp), đồng chí Nguyễn Thanh Sang (xã Phong Mỹ, tỉnh Đồng Tháp), đồng chí Bùi Hoàng Nam (phường Mỹ Trà, tỉnh Đồng Tháp), đồng chí Quyết Tiến (xã Mỹ Quý, tỉnh Đồng Tháp), đồng chí Võ Văn Kháng, tên thường gọi Minh Thành (phường Mỹ Trà, tỉnh Đồng Tháp),... Ông nhớ rõ họ tên của từng đồng chí, đồng đội năm xưa. Ông xúc động: “Trong kháng chiến, đồng đội đã hi sinh rất nhiều”.
Với tinh thần cách mạng tiến công, đơn vị C279 đã vượt qua mọi khó khăn. Các đồng chí đã biết dựa vào dân, bố trí nơi ăn nghỉ, hội họp, phương tiện đi lại cho các đồng chí lãnh đạo Tỉnh uỷ. Vũ khí đạn dược thiếu thốn, các đồng chí phải tự tạo lấy vũ khí, khí tài và tự túc về lương thực. Suốt từ năm 1959 đến ngày 30/4/1975, đơn vị C279 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối an toàn cơ quan Tỉnh uỷ và bảo vệ an toàn cho các đồng chí cán bộ Tỉnh uỷ. Ngày 15/10/1976, đơn vị C279 được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Từ đơn vị anh hùng này đã sản sinh ra những người chỉ huy anh hùng. Đó là Anh hùng lực lượng vũ trang Võ Văn Dánh (Tư Hiếu) và Nguyễn Văn Phấn (Tư Phấn). Tên gọi C279 được đặt cho tên đường tại xã Mỹ Hiệp, tỉnh Đồng Tháp theo Nghị quyết số 52/NQ-HĐND ngày 09 tháng 12 năm 2022 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Sau Ngày miền Nam Giải phóng, năm 1978, Ông được điều động làm Phó Trưởng Phòng Cảnh sát Bảo vệ, Công an tỉnh Đồng Tháp. Năm 1979, Ông được điều động về Trại Cải tạo, làm Phó Giám thị, Bí thư Chi bộ Trại Cải tạo. Tháng 10/1981, Ông được điều động giữ chức vụ Trưởng phòng Phòng Điều tra Xét hỏi, Công an tỉnh Đồng Tháp. Tháng 8/1987, Ông được điều động giữ chức vụ Trưởng Trại Cải tạo. Năm 1989 đến năm 1991, Đảng uỷ viên, Công an tỉnh Đồng Tháp. Tháng 8/1989, Ông được điều động giữ chức Trưởng phòng Phòng Bảo vệ, nay là Phòng Cảnh sát Cơ động, Công an tỉnh Đồng Tháp, cấp bậc: Thiếu tá. Ngày 26/10/1992, Ông về hưu. Trong quá trình công tác, Ông được nhận nhiều bằng khen, giấy khen. Ông được Chủ tịch nước tặng Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Quyết thắng hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất và Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng.
Cựu chiến binh Võ Minh Thành nhận Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng
Vợ của Ông - Bà Lâm Kim Hoa, sinh năm 1955 cùng với Ông đã góp sức, góp công vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên được nhận Bằng khen của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Thời hoa lửa đã lùi xa nhưng ánh sáng của người cựu chiến binh năm xưa chưa bao giờ tắt. Cả một thời tuổi trẻ cống hiến, là lời nhắn gửi của quá khứ đến tương lai. Hãy biết trân trọng hòa bình vì đằng sau nó là máu, nước mắt, là tình yêu Tổ quốc của bao thế hệ cha ông, mãi mãi khắc ghi công ơn thế hệ cha ông đi trước.
Giờ đây, tuy đã nghỉ hưu nhưng Ông vẫn tiếp tục cống hiến sức mình và trở thành “nhân chứng sống” khi khu căn cứ năm xưa trở thành khu di tích lịch sử. Với tôi, Ông là “Cây cao bóng cả” trong gia đình. Ông chấp hành và tuyên truyền đến các thành viên trong gia đình, quần chúng Nhân dân những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định tại địa phương; tích cực đóng góp cho các hoạt động an sinh xã hội, giữ gìn vệ sinh môi trường góp phần xây dựng đô thi văn minh.
Mỗi con đường chúng ta đi hôm nay chính là sự tiếp nối của những bước chân năm xưa đã từng rướm máu vì hòa bình. Ông từng đánh đổi tuổi trẻ vì hòa bình. Nay, Ông lại lặng lẽ dõi theo thế hệ trẻ - những người đang viết tiếp câu chuyện hòa bình, giấc mơ độc lập, tự do, hạnh phúc.
Ông nhắn gửi: “Các cháu là thế hệ trẻ lớn lên trong hòa bình, đất nước được độc lập, phát triển hùng cường, tiến bộ, cả thế giới đều biết đến đất nước Việt Nam, các cháu phải tự hào mình là người Việt Nam. Thế hệ các cháu phải học tập tốt, lao động tốt, rèn luyện đạo đức, đời đời ghi nhớ công ơn to lớn của các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống.”
“Câu chuyện thời hoa lửa” hào hùng được chia sẻ từ chính người trong cuộc - Ông hai Minh Thành - ký ức sống mãi với thời gian đã góp phần lan tỏa tình yêu quê hương, giáo dục truyền thống cách mạng đến thế hệ trẻ. Tôi tự hào về Ông, tôi có cảm tưởng như chính mình đang được sống trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ đầy máu và hoa.



