Ký ức Trường Sơn: Những đóa hoa nở giữa mưa bom
Với kinh nghiệm của một người làm báo nhiều năm lắng nghe các câu chuyện lịch sử, tôi vẫn không khỏi rùng mình khi nghe bà kể về những lần "đánh cược" mạng sống với tử thần.
KÝ ỨC TRƯỜNG SƠN: NHỮNG ĐÓA HOA NỞ GIỮA MƯA BOM
Nắng chiều thu nhạt dần trên khoảng sân nhỏ của căn nhà cấp bốn nằm sâu trong con ngõ tĩnh lặng. Bà Nguyễn Thị Hoa (sinh năm 1948) ngồi đó, mái tóc đã bạc trắng như cước, đôi bàn tay gầy guộc miết nhẹ lên tấm huy chương đã nhuốm màu thời gian. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày cô thiếu nữ 18 tuổi gác lại bút nghiên, rời quê hương Hà Tĩnh để bước vào tọa độ lửa Trường Sơn. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong ánh mắt của người nữ cựu Thanh niên xung phong ấy, những vạt rừng cháy rụi và tiếng bom gầm rít dường như mới chỉ tàn qua đêm qua.
Tiếng gọi của thanh xuân
Năm 1966, đế quốc Mỹ điên cuồng đánh phá miền Bắc hòng chặt đứt tuyến đường chi viện chiến lược mang tên Bác. Cả nước sục sôi khí thế "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang". Cô nữ sinh Nguyễn Thị Hoa khi ấy vừa tròn 18 tuổi, cái tuổi đẹp nhất của đời người, đã giấu gia đình viết đơn tình nguyện bằng máu để xin gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong (TNXP).
"Ngày đó, chúng tôi đi không ai nghĩ đến ngày về. Chỉ biết rằng miền Nam đang gọi, Tổ quốc đang cần, mình còn sức trẻ thì mình phải đi," bà Hoa bồi hồi nhớ lại. Hành trang mang theo vào rừng chỉ có vài bộ quần áo sờn cũ, chiếc võng bạt, và một trái tim hừng hực lửa yêu nước. Đơn vị của bà được biên chế vào Đại đội 55, Tổng đội TNXP P31, đảm nhận nhiệm vụ bám trụ tại tuyến đường 20 Quyết Thắng – nơi được mệnh danh là "túi bom" của chiến trường Trường Sơn.
Máu và hoa trên tọa độ chết
Đường 20 Quyết Thắng những năm 1968 - 1969 không có ngày nào vắng tiếng bom B-52. Ban ngày, địch rải thảm bom phá, bom bi, chất độc hóa học hòng biến những cánh rừng già thành vùng đất chết. Ban đêm, pháo sáng treo lơ lửng trên không trung, soi rõ từng kẽ lá. Nhiệm vụ của tiểu đội bà Hoa là san lấp hố bom, phá bom nổ chậm, đảm bảo mặt đường thông suốt cho xe chở đạn dược, lương thực vào Nam.
Với kinh nghiệm của một người làm báo nhiều năm lắng nghe các câu chuyện lịch sử, tôi vẫn không khỏi rùng mình khi nghe bà kể về những lần "đánh cược" mạng sống với tử thần.
"Bom nổ chậm là nỗi ám ảnh lớn nhất. Có những quả bom từ trường cắm sâu xuống bùn đỏ, chỉ cần một tiếng kim loại va chạm nhỏ cũng có thể nổ tung," giọng bà chùng xuống. "Chúng tôi, những cô gái chưa từng biết đến sắt thép nặng nhọc, phải dùng cuốc, xẻng bằng tre, gỗ để đào đất, rà phá. Có những đêm mưa rừng tầm tã, vắt bám đầy chân, nước lũ cuốn trôi cả mặt đường vừa đắp, chị em lại ôm nhau khóc. Nhưng khóc xong, quệt ngang nước mắt, lại cầm cuốc lao ra đường. Tiền tuyến không thể đợi."
Đó là những tháng ngày mà khẩu hiệu "Máu có thể đổ, đường không thể tắc" đã trở thành lẽ sống. Bùn đất Trường Sơn nhão nhoét đỏ quạch không chỉ bởi mưa rừng, mà còn thấm đẫm máu của những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi.
[Hình ảnh minh họa: Tư liệu đen trắng về các nữ Thanh niên xung phong đang san lấp hố bom dưới làn mưa rừng hoặc cảnh xe tải quân sự vượt qua ngầm nước]
Tình đồng chí và khúc tráng ca bất tử
Sự tàn khốc của chiến tranh không thể vùi lấp được nét lãng mạn, yêu đời của tuổi trẻ. Giữa những giờ phút ranh giới sinh tử mong manh nhất, người ta lại thấy sức sống mãnh liệt nhất. Bà Hoa mỉm cười khi nhắc đến những đêm giao lưu văn nghệ dã chiến ngay dưới lòng hào giao thông. Tiếng hát cất lên át đi tiếng bom gầm. Những bức thư nhà nhàu nhĩ được truyền tay nhau đọc chung dưới ánh đèn pin leo lét.
Nhưng chiến tranh, suy cho cùng, là một sự tàn nhẫn tột cùng. Đôi mắt bà Hoa ầng ậc nước khi kể về sự hy sinh của đồng đội.
"Ngày 15 tháng 7 năm 1968, một loạt bom tọa độ rơi trúng lán của tiểu đội. Bốn chị em hy sinh tại chỗ, thân thể không còn nguyên vẹn. Lan – cô bạn thân nhất của tôi, người đêm trước còn thì thầm kể chuyện người yêu ở quê – chỉ còn lại mảnh áo rách bươm vắt trên cành cây cháy đen," bà nấc nghẹn. Những người ở lại nén đau thương, tự tay gom nhặt từng phần thi thể đồng đội, bọc trong những mảnh nilon mỏng manh rồi chôn cất vội vàng bên sườn đồi. Không có bia đá, chỉ có những gốc cây khắc vội tên tuổi làm dấu.
Những mất mát ấy không làm họ gục ngã, mà biến thành ngọn lửa căm thù, thành động lực để những người còn sống tiếp tục bám trụ. Họ đã sống, đã chiến đấu thay cho cả phần của những người đã ngã xuống.
Vang vọng đến mai sau
-Năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất. Bà Hoa mang ba lô trở về quê hương, mang theo những vết thương chiến tranh và di chứng của những cơn sốt rét rừng dai dẳng. Nhiều đồng đội của bà mãi mãi nằm lại nơi rừng sâu núi thẳm, có người đến nay vẫn chưa tìm thấy hài cốt.
Trở về cuộc sống đời thường, những cựu TNXP như bà Hoa lại lặng lẽ cống hiến, vượt qua khó khăn để xây dựng gia đình, quê hương. Không đòi hỏi quyền lợi, không than vãn, họ coi việc được sống sót trở về đã là một đặc ân quá lớn so với hàng vạn đồng đội đã hóa thân vào lòng đất mẹ.
Khi được hỏi bà muốn nhắn nhủ điều gì với thế hệ trẻ hôm nay, bà vuốt nhẹ tấm huy chương, hiền từ nói: "Thế hệ các bà đã làm tròn nhiệm vụ với lịch sử. Đất nước có được nền hòa bình này là đánh đổi bằng máu, bằng xương của biết bao người. Chỉ mong các cháu thanh niên bây giờ biết trân trọng độc lập, cố gắng học hành, sống sao cho xứng đáng với những người đã ngã xuống."
Chia tay bà Nguyễn Thị Hoa khi bóng tối đã trùm lên con ngõ nhỏ, trong lòng tôi trào dâng một sự xót xa lẫn kính phục sâu sắc. Những trang sử hào hùng của dân tộc không chỉ được viết lên bởi những vị tướng lĩnh kiệt xuất, mà còn được đắp bồi bởi máu xương của những con người vô danh, bình dị như bà Hoa. Họ là những đóa hoa rừng Trường Sơn kiên cường nhất, nở rộ rực rỡ trong mưa bom bão đạn, để hương thơm của hòa bình, tự do còn lưu mãi đến ngàn đời sau.



