KÝ ỨC VỀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ QUA LỜI KỂ CỦA ÔNG TÔI (1)
Trong ký ức tuổi thơ tôi, hình ảnh ông nội luôn gắn với chiếc áo bộ đội đã sờn màu và giọng kể trầm ấm mỗi tối bên hiên nhà. Ông tôi là Nguyễn Văn Hùng, sinh năm 1932 tại xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên. Năm 1951, khi mới 19 tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ, biên chế vào Đại đoàn 312 và trực tiếp tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 là một trong những chiến dịch đã làm nên mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc.
Trong ký ức tuổi thơ tôi, hình ảnh ông nội luôn gắn với chiếc áo bộ đội đã sờn màu và giọng kể trầm ấm mỗi tối bên hiên nhà. Ông tôi là Nguyễn Văn Hùng, sinh năm 1932 tại xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên. Năm 1951, khi mới 19 tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ, biên chế vào Đại đoàn 312 và trực tiếp tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 là một trong những chiến dịch đã làm nên mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc.
Ông kể rằng đầu năm 1954, đơn vị hành quân từ trung du lên Tây Bắc. Đường đi gập ghềnh, dốc cao, nhiều đoạn phải bám dây rừng mà leo. Bộ đội vừa hành quân vừa giữ bí mật tuyệt đối. Ban ngày trú quân dưới tán rừng, ban đêm lặng lẽ tiến bước. Có những hôm mưa phùn kéo dài, áo quần ướt sũng nhưng không ai kêu ca. Ai cũng hiểu mình đang đi vào một trận đánh lớn của lịch sử.
Khi đến Điện Biên, điều khiến ông ấn tượng nhất là quy mô phòng ngự kiên cố của địch. Cứ điểm nằm giữa lòng chảo, có hầm ngầm, lô cốt, dây thép gai và hỏa lực dày đặc. Để tiếp cận, bộ đội ta phải đào hệ thống giao thông hào tiến dần từng mét một. Ông bảo, những đêm đào hào là những đêm căng thẳng nhất. Mỗi nhát cuốc phải thật khẽ để tránh bị phát hiện. Đất đá cứng, cuốc xẻng thô sơ, nhiều khi bàn tay bật máu
nhưng vẫn không dừng lại.
Có lần, pháo địch bắn trùm lên trận địa, đất đá vùi lấp một đoạn hào vừa đào xong. Đồng đội ông có người bị thương. Nhưng chỉ ít phút sau, mọi người lại tiếp tục công việc, vừa đào lại vừa động viên nhau. Ông nói:
– Khi đó, điều giữ chúng tôi đứng vững không chỉ là mệnh lệnh, mà là niềm tin rằng nhất định phải thắng.
Đơn vị ông tham gia tiến công các cứ điểm phía Đông, trong đó có khu vực Đồi A1 là vị trí then chốt bảo vệ trung tâm tập đoàn cứ điểm. Những trận đánh diễn ra giằng co, ban ngày địch phản kích, ban đêm ta lại tiến công. Có những đoạn chiến hào chỉ cách nhau vài mét. Tiếng lựu đạn nổ, tiếng súng tiểu liên vang dội trong đêm tối.
Ông từng kể về một người bạn cùng quê nhập ngũ cùng đợt. Trong một đợt xung phong, người bạn ấy đã anh dũng hy sinh. Ông không kể nhiều, chỉ lặng đi một lúc rồi nói:
– Bạn ông nằm lại đó, khi tuổi đời còn rất trẻ.
Mỗi lần nhắc lại, ánh mắt ông trầm xuống. Với ông, chiến thắng không chỉ là niềm tự hào mà còn là sự đánh đổi bằng máu xương của biết bao người.
Đêm 6 rạng sáng 7/5/1954 là thời khắc ông nhớ rõ nhất. Sau tiếng nổ lớn của khối bộc phá dưới lòng Đồi A1, các đơn vị đồng loạt xung phong. Tiếng súng, tiếng hò xung trận hòa vào nhau giữa khói lửa. Đến chiều ngày 7/5/1954, khi tin toàn bộ tập đoàn cứ điểm đầu hàng được truyền đi, cả chiến trường vỡ òa. Lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” tung bay trên nóc hầm tướng Đờ Cát. Ông nói đó là khoảnh khắc suốt đời không thể quên khoảnh khắc người lính trẻ hiểu rằng mình đã góp phần làm nên lịch sử.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội thêm vài năm rồi mới xuất ngũ trở về quê hương. Trở lại Thái Nguyên, ông tham gia lao động sản xuất, xây dựng hợp tác xã. Cuộc sống thời bình còn nhiều khó khăn, nhưng ông luôn giữ tinh thần lạc quan của người lính.
Ông ít khi nói về công lao của mình. Trong nhà, tấm huân chương được cất cẩn thận trong hộp gỗ nhỏ. Ông thường dặn con cháu: “Hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có. Các cháu phải học tập, làm việc thật tốt, đó là cách tri ân thiết thực nhất.”
Năm 2018, ông qua đời, để lại cho gia đình không chỉ là kỷ vật, mà còn là một di sản tinh thần. Mỗi lần đọc lại những trang sử về Chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi không còn thấy đó là những con số khô khan nữa, mà là hình ảnh của ông và những người đồng đội năm xưa những con người bình dị đã làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Với tôi, câu chuyện của ông là lời nhắc nhở sâu sắc rằng: lịch sử không ở đâu xa. Lịch sử hiện diện trong chính mỗi gia đình, trong ký ức của những người đã đi qua chiến tranh. Và trách nhiệm của thế hệ hôm nay là gìn giữ, trân trọng và tiếp nối những giá trị ấy, để những câu chuyện thời hoa lửa không bao giờ phai nhạt theo thời gian.



