KÝ ỨC VỀ CUỘC ĐÀM PHÁN DÀI NHẤT LỊCH SỬ
Phạm Ngọc Như Ý
Bà Nguyễn Thị Bình, nữ Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Việt Nam, chia sẻ trong hồi ký về Hiệp định Paris, khi rời Hà Nội lên đường cuối năm 1968, bà không ngờ cuộc đàm phán để ký hiệp định lại dài đến thế.
Bắt đầu ngoại giao từ… cái bàn
Bà Nguyễn Thị Bình đã dành một chương trong cuốn hồi ký Đất nước, gia đình và bạn bè của mình để viết về những năm tháng đàm phán Hiệp định Paris. Trong chương “Cuộc đàm phán dài nhất lịch sử”, bà viết: “Đây có lẽ là cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử thế giới, bắt đầu từ tháng 11.1968, kết thúc ngày 27.1.1973. Khi rời Hà Nội lên đường cuối tháng 10.1968, tôi không ngờ nó sẽ kéo dài đến thế”. Thời điểm đó, bà là đại diện của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Toàn cảnh ký kết Hiệp định Paris 1973
Tư liệu Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
Bà Nguyễn Thị Bình nhớ lại điểm khởi đầu của cuộc đàm phán là đấu tranh về cái bàn. “Trong lịch sử đấu tranh ngoại giao thế giới chưa bao giờ lại có kiểu bắt đầu đặc biệt như vậy: Trước tiên là đấu tranh về cái bàn. Đương nhiên có lý do, hình thù và cách phân chia chỗ ngồi ở bàn chính là xác nhận tính chất pháp nhân của các bên đàm phán”, bà Bình viết.
Bà cũng cho biết từ tháng 5 - 10.1968, cuộc bàn cãi giữa ông Xuân Thủy (Trưởng đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - VNDCCH) và Đại sứ Mỹ Harriman đã rất gay gắt về vấn đề vai trò của đoàn Mặt trận. Phía ta nêu rõ Mặt trận là đại diện cho nhân dân miền Nam đang trực tiếp chống Mỹ nên đương nhiên phải là một bên đàm phán. Mỹ thì cho rằng Mặt trận là “người của miền Bắc”, là “cộng sản”, muốn lật đổ “quốc gia” ở miền Nam. Ta nói rằng chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên, là tay sai của Mỹ. “Cuộc đấu tranh “bốn bên hay hai bên” có ý nghĩa chính trị rất quan trọng. Chúng ta yêu cầu một cái bàn vuông cho bốn bên đàm phán hoặc một cái bàn tròn chia bốn. Mỹ đòi một cái bàn chữ nhật có hai bên hoặc một cái bàn tròn chia đôi”, bà Bình viết.
Cuối cùng, các bên thống nhất sẽ là một cái bàn tròn to, đường kính 8 m, cắt đôi, trải khăn bàn màu xanh, mỗi bên có một vạch phân chia nằm bên ngoài, như vậy ai hiểu là hai bên hay bốn bên cũng được. Phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngồi sát nhau như một bên, còn phía ta, đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và đoàn Chính phủ VNDCCH ngồi thành hai đoàn riêng biệt. “Đối với dư luận, cách ngồi của Mỹ và chính quyền Sài Gòn là không có lợi cho họ, có thể thấy rõ chính quyền Sài Gòn là tay sai của Mỹ, làm sao mà đại diện được cho nhân dân miền Nam”, bà Bình chia sẻ.
Công khai và bí mật, đánh để đàm
Hồi ký của ông Hà Văn Lâu, thành viên của đoàn đàm phán Chính phủ VNDCCH, cho biết trong giai đoạn đầu (từ ngày 13.5 - 31.10.1968), ta đòi Mỹ chấm dứt ném bom vô điều kiện. Ta nhấn mạnh chữ vô điều kiện nhưng Mỹ đòi ra điều kiện mới chấm dứt ném bom. Tất nhiên, ta không chịu mà kiên quyết đòi chấm dứt ném bom vô điều kiện. “Ta có hai phương thức đấu tranh, đấu tranh công khai họp tại Kléber (Trung tâm hội nghị quốc tế Kléber, Paris, Pháp - PV) và đấu tranh bí mật. Đấu tranh công khai, ta huy động nhân dân Pháp tiến bộ và nhất là Việt kiều lên án tội ác chiến tranh của Mỹ. Ngoài công khai, còn có những cuộc tiếp xúc bí mật đi vào thăm dò để giải quyết từng vấn đề. Tổng cộng, hai bên đã có 28 cuộc họp công khai và 12 cuộc họp bí mật cấp phó đoàn”, ông Lâu viết.

Bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ký Hiệp định Paris ngày 27.1.1973
Tư liệu Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam
Ông Lâu cũng cho biết: “Tôi tham gia chủ yếu ở giai đoạn thứ nhất, giai đoạn thăm dò phía Mỹ. Trong khi thăm dò, tôi có nhiệm vụ thay mặt cho đoàn VNDCCH gặp gỡ riêng với Cyrus Vance, Phó đoàn phụ trách về quân sự. Trong các cuộc gặp riêng, tôi cùng anh Nguyễn Minh Vỹ (Tổng cục trưởng Tổng cục Thông tin lúc bấy giờ, một thành viên đoàn Chính phủ VNDCCH - PV) đấu tranh với Vance và Habib - một tay cố vấn rất am hiểu Đông Dương. Qua 12 cuộc gặp gỡ bí mật, ta đánh lùi dần các lập trường và điều kiện của Mỹ theo đúng chỉ thị của Bộ Chính trị, cuối cùng buộc Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc vô điều kiện vào ngày 31.10.1968”.
Ngoại giao vốn mềm mỏng nhưng rồi thực tế các cuộc ném bom của không quân Mỹ trên miền Bắc đã khiến những nhà ngoại giao Việt Nam phải căng thẳng, gay gắt với phái đoàn Mỹ. Qua hồi ức, ông Hà Văn Lâu nhớ lại, lần thứ nhất, họp riêng hai phó đoàn, Vance đòi ra điều kiện mới đồng ý chấm dứt ném bom. Trong khi đó, ông Hà Văn Lâu yêu cầu Mỹ phải chấm dứt ném bom vô điều kiện.
Lần thứ hai là phiên họp riêng, có cố vấn Lê Đức Thọ - cố vấn đặc biệt của đoàn Chính phủ VNDCCH, Trưởng đoàn Chính phủ VNDCCH Xuân Thủy và ông Hà Văn Lâu. Lần đó, phía VNDCCH không cho phái đoàn Sài Gòn vào họp. Hariman dọa: “Nếu vậy thì chiến tranh còn tiếp tục, bom sẽ lại dội lên đầu các ông”. Nghe vậy, ông Xuân Thủy nổi giận, đập bàn ba lần và nói: “Ông dọa ném bom trở lại à? Chúng tôi sẵn sàng chống lại”. Cố vấn Lê Đức Thọ đấu dịu: “Ông dọa chiến tranh không được đâu. Chúng ta đã đánh nhau nhiều năm rồi, không lạ gì nhau nữa”. Hariman suy nghĩ một hồi và xin rút câu: “Bom sẽ lại dội trên đầu các ông”.
Bom B-52 đã rơi vào cuối năm 1972. Trước đó, trước ngày bầu cử tổng thống Mỹ, ông Lê Đức Thọ đã mang từ trong nước sang “Dự thảo Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Bà Nguyễn Thị Bình nhớ lại, dự thảo hiệp định lần này, ta chủ động nhấn mạnh vào việc Mỹ phải rút quân hoàn toàn ra khỏi miền Nam, chấm dứt chiến tranh, song nới lỏng yêu cầu vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam. Đến đầu tháng 10.1972, hai bên đã thỏa thuận bản một dự thảo và dự định đến ngày 30.10 sẽ ký Hiệp định Paris nhằm chấm dứt chiến tranh...
Ngày 27.1.1973, ngày ký kết Hiệp định Paris, có một ý nghĩa lịch sử to lớn. Đối với mỗi chúng tôi trong đoàn cũng là ngày không thể quên trong cả cuộc đời... Những người yêu hòa bình và công lý trên thế giới đều hồ hởi như chính mình đã chiến thắng.
Bà Nguyễn Thị Bình
Mặc dù vậy, đầu tháng 11.1972, khi Nixon thắng cử tổng thống Mỹ, ông ta liền lật lọng, đòi sửa lại nội dung hiệp định. Và để buộc Việt Nam chấp nhận, ông ta đã tiến hành cuộc không kích tội ác liên tục 12 ngày đêm, từ ngày 18 - 31.12.1972, bằng B-52 xuống Hà Nội, Hải Phòng. “Đây là đòn đánh phản trắc và ác liệt nhất của Mỹ. Ngày 21.12, chúng tôi tuyên bố ngừng đàm phán để phản đối. Đó là những ngày vô cùng căng thẳng”, bà Bình viết.
Những ngày Điện Biên Phủ trên không kết thúc, bà Bình đánh giá: “Mỹ đã cay đắng thấy rằng cả B-52 cũng không thể làm nhụt ý chí của nhân dân ta. Trái lại, ngoài thất bại quân sự, tổn thất nặng nề về B-52, thất bại chính trị của Mỹ còn lớn hơn. Cả thế giới lên án Mỹ. Chính phủ Anh, đồng minh thân cận nhất của Mỹ cũng ra tuyên bố “đáng tiếc” trước hành động này của Mỹ”.



