Ký ức về cuộc đời trận mạc và những kỷ vật vô giá của Thiếu tướng Nguyễn Thanh Bình
Đôi tay run run, trao chiếc màn tuyn và chiếc võng dù cho chúng tôi, nước mắt nhòa trên khuôn mặt vị tướng già. Cái thời “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” lại ào ạt trào về làm sống động ký ức của ông. Tham gia cách mạng từ năm 1938, năm 1949, ông được điều vào quân đội. Từ năm 1949 - 1960, ông giữ cương vị Cục trưởng Cục Quân nhu Tổng cục Cung cấp rồi Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1959. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đã tham gia hầu hết các chiến dịch lớn: Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ. Mỗi chiến dịch đều gắn với ông những kỷ niệm sâu sắc.

Đôi tay run run, trao chiếc màn tuyn và chiếc võng dù cho chúng tôi, nước mắt nhòa trên khuôn mặt vị tướng già. Cái thời “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” lại ào ạt trào về làm sống động ký ức của ông. Tham gia cách mạng từ năm 1938, năm 1949, ông được điều vào quân đội. Từ năm 1949 - 1960, ông giữ cương vị Cục trưởng Cục Quân nhu Tổng cục Cung cấp rồi Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1959. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đã tham gia hầu hết các chiến dịch lớn: Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ. Mỗi chiến dịch đều gắn với ông những kỷ niệm sâu sắc.
Ông chính là Thiếu tướng Nguyễn Thanh Bình, (tên khai sinh: Nguyễn Văn Huyên, bí danh: Giáo, Bình), sinh ngày 04/5/1920; quê ở xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Nội thương, Bộ Thủy lợi; nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra của Chính phủ; nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội; đại biểu Quốc hội các khóa III, IV, V, VI, VII và VIII.

Chân dung Thiếu tướng Nguyễn Thanh Bình.
Năm 2007, đoàn cán bộ Bảo tàng Hậu cần tìm đến nhà riêng của Thiếu tướng Nguyễn Thanh Bình gặp ông, nghe ông kể về cuộc đời quân ngũ cũng như những kỷ niệm của mình. Ông nhấc cặp kính đặt xuống bàn, đôi mắt nhíu lại, chậm rãi kể:
“Cuối năm 1949, Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng tư lệnh đã điều một số cán bộ bổ sung cho ngành Quân nhu. Tôi khi đó là Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng được lựa chọn giữ cương vị Cục trưởng Cục Quân nhu (Tháng 3/1950).
Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, tôi đã cùng cán bộ, chiến sỹ ngành quân nhu chấn chỉnh tổ chức, xây dựng củng cố các cơ sở sản xuất đáp ứng nhu cầu cấp thiết của các lực lượng vũ trang, phục vụ bộ đội địa phương xây dựng và chiến đấu. Với vinh dự và trách nhiệm nặng nề, tôi xác định, cán bộ hậu cần phải nhận thức đầy đủ hơn về công tác hậu cần, nâng cao nhận thức và quan điểm về hậu cần nhân dân. Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, quân đội của ta là quân đội nhân dân nên phải dựa vào dân, công tác cung cấp phải là cung cấp nhân dân.”
Trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, tôi luôn nhớ lời Bác Hồ dạy: “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống tinh thần, vật chất của đội viên, phải xem đội viên ăn uống như thế nào, phải hiểu nguyện vọng thắc mắc của đội viên. Bộ đội chưa ăn cơm, cán bộ không được kêu mình đói. Bộ đội chưa có áo mặc, cán bộ không được kêu mình rét. Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ không được kêu mình mệt[1]”.
Tháng 9/1952, trên cơ sở Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Tây Bắc, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh tổ chức Hội nghị cán bộ tham gia Chiến dịch Tây Bắc. Bộ máy hậu cần chiến dịch được thành lập. Cơ quan tiền phương Tổng cục Cung cấp do đồng chí Trần Đăng Ninh trực tiếp phụ trách, đặt Sở Chỉ huy ở Yên Bái làm nhiệm vụ huy động nhân lực, vật lực ở hậu phương và tổ chức việc rải trạm phục vụ bộ đội trên đường hành quân vào khu vực chiến đấu. Đồng chí Nguyễn Thanh Bình được giao nhiệm vụ đi cùng với Sở Chỉ huy cơ bản của Bộ Chỉ huy Chiến dịch với cương vị Phó Chủ nhiệm hậu cần Chiến dịch. Đây là Chiến dịch lớn, dài ngày ở chiến trường rừng núi, hệ thống đường sá và bảo đảm hậu cần chưa có, lại xa hậu cứ hậu phương nên công tác hậu cần gặp rất nhiều khó khăn. Do chuẩn bị chưa chu đáo nên trong đợt 1, công tác hậu cần chưa theo kịp sự phát triển của Chiến dịch. Bước sang các đợt sau, các lực lượng trên các tuyến hậu cần đã khắc phục khó khăn để mở đường và vận chuyển tiếp tế lương thực, đạn dược cho bộ đội, cứu chữa thương bệnh binh, phục vụ tiến công địch. Kết quả, đã cung cấp tới 9.360 tấn gạo, 359 tấn muối và thực phẩm, 33 tấn đạn, cứu chữa tại mặt trận và đưa về các bệnh viện hậu phương 2535 thương binh. Trong Chiến dịch Tây Bắc, hậu cần đã có nhiều sáng tạo và kinh nghiệm mới về tổ chức vận tải như rải trạm vận tải theo sát bộ đội hành quân, chiến đấu và truy kích địch, kết hợp các phương thức vận tải bằng sức người, bằng các phương tiện thô sơ và cơ giới. Các hình thức “vận tải đèn lồng”, “vận tải cuốn chiếu”, bố trí vận tải theo hình thức “búp măng” được sử dụng trong chiến dịch đem lại hiệu quả thiết thực.

Màn tuyn và võng dù của Thiếu tướng Nguyễn Thanh Bình.
Thiếu tướng Bình kể: “Trong cuộc đời làm cán bộ hậu cần quân đội, tôi và anh em luôn nhớ sâu sắc về Chiến dịch Tây Bắc với nỗi “buồn Khâu Vác”. Đó là bài học về quan điểm thực tiễn chiến trường, bám sát bộ đội để phục vụ khi tổ chức vận tải đường bộ dài ngày trên chiến trường rừng núi. Chính vì kỷ niệm đó mà tôi đã giữ chiếc màn tuyn của Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 thu được của quân Pháp ở đồn Pú Chạng tặng tôi sau chiến dịch đến giờ”.
Sau khi ông bật cười khà khà thì ông kể tiếp: “Trong kháng chiến chống Pháp, có được chiếc màn là quý lắm. Đi công tác rừng núi mà không có màn không thể chịu nổi với ruồi, muỗi, vắt, bọ chó. Bị chúng đốt là sốt rét liền. Tôi còn nhớ câu phương ngôn nói về cái khắc nghiệt của Tây Bắc “Ruồi vàng, bọ chó, gió Tây Trang” nên khi có chiếc màn, tôi giữ cẩn thận lắm, khi nào cũng mang theo bên mình. Nó đã cùng tôi tham gia Chiến dịch Thượng Lào với cương vị Phó Chủ nhiệm Hậu cần Chiến dịch phụ trách hậu cần tuyến Vạn Mai - Suối Rút - Mộc Châu - Sốp Bao, sau đó là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp tiền phương dưới quyền anh Đặng Kim Giang, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong thời gian tham gia phục vụ hậu cần Chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi được anh em Đại đoàn 312 tặng chiếc võng dù. Chiếc võng đan bằng lõi dây dù, đầu võng quấn bằng dây dù màu cỏ úa, hai đầu võng đan bằng dây dù màu đỏ, thân võng đan bằng dây dù màu trắng. Chiếc võng được đan cẩn thận, công phu, là loại đẹp nhất lúc bấy giờ. Trong hành trang của mình, ngoài chiếc màn tuyn, thêm chiếc võng, tôi có một chiếc giường ngủ di động tuyệt vời”.
Ông nhớ lại: “Tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi trực tiếp phụ trách tuyến hậu cần hỏa tuyến bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu phía trước. Sở Chỉ huy của chúng tôi đóng ở gần Nà Tấu, sát đường vận chuyển để tiện chỉ huy”. Trên tuyến này, lực lượng vận tải chủ yếu là dân công và xe đạp thồ. Nhiệm vụ của tuyến này là vận chuyển vật chất cho các đại đoàn bộ binh, trung đoàn pháo binh và các kho trung chuyển. Đội xe đạp thồ là một trong những lực lượng quan trọng phục vụ hậu cầu cho Chiến dịch. Chính phương tiện vận chuyển này đã gây nên bất ngờ lớn ngoài tầm dự tính của các chỉ huy Pháp, làm đảo lộn những tính toán trước đây khi cho rằng Việt Minh không thể bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch lớn, dài ngày trong các điều kiện phức tạp như vậy được.
Đến đầu tháng 2/1954, lực lượng chiến đấu của ta ở Điện Biên Phủ đã lên đến 43.000 người, nhu cầu vật chất tăng gấp nhiều lần so với kế hoạch ban đầu. Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng tấn công cứ điểm Him Lam, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Toàn tuyến hậu cần bước vào trận chiến đấu mới ngày càng cam go, ác liệt hơn. Khó khăn lớn nhất của hậu cần chiến dịch là tuyến vận tải rất dài lại phải qua địa hình rừng núi hiểm trở, nhiều sông suối, đường hẹp và xấu. Nắm được khó khăn này của ta, địch tập trung lực lượng không quân đánh phá ác liệt các tuyến đường ra mặt trận. Thêm vào đó trời mưa, đường trở nên lầy lội gây khó khăn cho các phương tiện vận chuyển. Với tinh thần “Tất cả cho mặt trận, tất cả để chiến thắng” ngành hậu cần quân đội đã đảm bảo hậu cần phục vụ cho bộ đội chiến đấu, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Vai trò của bộ đội hậu cần được Đại tướng - Tổng Tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng Chiến dịch Võ Nguyên Giáp đánh giá cao. Trong cuốn sách “Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước”, Đại tướng viết: “Vấn đề bảo đảm cung cấp lương thực, đạn dược là một nhân tố vô cùng quan trọng, quan trọng không kém các vấn đề chiến thuật, khó khăn về cung cấp lương thực không kém khó khăn về tình hình chiến đấu. Chính vì vấn đề cung cấp khó khăn như vậy cho nên quân địch không bao giờ tưởng tượng được rằng, chúng ta có thể khắc phục được khó khăn này. Bọn đế quốc, bọn phản động không bao giờ đánh giá được sức mạnh của cả một dân tộc. Sức mạnh đó có thể khắc phục tất cả mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ địch”.
Nhớ đến chiếc võng dù, Tướng Bình trở lại câu chuyện: Để chống lại các cứ điểm kiên cố của quân Pháp, đã áp dụng chiến thuật “vây lấn” rất có hiệu quả bằng việc đào các giao thông hào dần dần bao vây và siết chặt, tiếp cận dần vào các vị trí của Pháp. Suốt ngày đêm, từng giờ, những chiến hào nổi, chiến hào ngầm của bộ đội nhích dần đến gần phân khu trung tâm. Đến cuối tháng 4, vòng vây của ta đã siết chặt. Quân Pháp bị vây hãm trong chiến hào giống như chiếc cổ họng dần bị thắt chặt, tiếp tế và tiếp viện trở nên cực kỳ khó khăn. Hàng chục nghìn quân địch trông chờ vào phương tiện tiếp tế duy nhất là đường hàng không cách xa trên 360 km. Sân bay Mường Thanh liên tục bị pháo kích. Quân Pháp chỉ còn cách bay trên cao và thả dù ban đêm. Đêm đêm, những chiếc máy bay là xuống thấp để thả dù người và tiếp tế. Các đơn vị cao pháo của ta đã áp sát khu trung tâm, bất thần cùng các cỡ súng bộ binh nổ đồng loạt. Chiếc máy bay nào không dính đạn bốc cháy thì cũng bị hất lên cao, vội vã thả dù để nhẹ cánh quay về căn cứ ở đồng bằng. Bọn chúng buộc phải thả dù ở độ cao trên 3.000 mét, máy bay đã tung một nửa số dù tiếp tế vào trận địa ta. Thấy dù hàng của địch rơi trắng cả cánh đồng, quân ta tổ chức đoạt dù tiếp tế của địch để bổ sung một phần tiếp tế cho ta đồng thời để bóp chết dạ dày của địch. Có đơn vị chỉ trong một tuần đã thu được 776 chiếc dù với các loại hàng tiếp tế do địch ném xuống: Đạn pháo và đạn súng cối, gạo, bánh mì, đồ hộp, dầu hỏa, huyết thanh khô… Lúc này quân ta được thoải mái thu dù về lót hầm nằm cho ấm, những lúc im tiếng súng, dây dù được bộ đội cắt ra rút lõi, đan thành võng. Những sợi dây dù của các kiện hàng, dưới bàn tay tài hoa của chiến sỹ Điện Biên trở thành những chiếc võng xinh xắn. Dưới chiến hào, bộ đội mắc võng nom rất thanh bình không ai nghĩ những ngày đó bộ đội trải qua những gian khổ ác liệt “Máu trộn bùn non/Gan không núng/Chí không mòn!”. Chiếc võng của ông là một trong số những chiếc võng chiến sỹ Đại đoàn 312 đã đan dưới chiến hào Điện Biên Phủ. Ông đã sử dụng chiếc võng suốt chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau này khi chuyển ngành ra ngoài, mỗi lần đi công tác ông mang võng theo sử dụng. Khi được Nhà nước cho nghỉ hưu, chiếc võng làm bạn với ông khi tuổi già.
Sau một thời gian lâm bệnh nặng, Thiếu tướng Nguyễn Thanh Bình đã từ trần ngày 19/3/2008. 70 năm hoạt động cách mạng, ông đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân, đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác./.
[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, NXB Chính trị quốc gia, H.2002,tr.207



