Ký ức về K8
Nếu như các ông Dương Ngọc Trai và Hồ Sỹ Tuần có nhiệm vụ tiền trạm và bảo đảm an toàn cho các đoàn xe, thì bà Lê Thị Thiều nhận một nhiệm vụ tưởng dễ nhưng “khó nhằn” hơn nhiều, nhất là khi bà mới vừa tròn 19 tuổi, thậm chí còn chưa có người yêu. Đó là hộ tống, chăm sóc các em nhỏ trên suốt chặng đường và ở trường học mới.
Sau khi đi thanh niên xung phong, cuối năm 1966, bà Lê Thị Thiều được phân công làm giáo viên, trở thành mẹ nuôi cho các em nhỏ trong đợt di chuyển đầu tiên của chiến dịch K8. “Bắt đầu từ xã Vĩnh Hiền, đoàn xe chở chúng tôi di chuyển cả đêm qua từng trạm của mỗi tỉnh và mất hàng chục ngày liền mới đến được huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa”, bà Thiều kể lại.
Trở thành “mẹ nuôi” cho các em ở Trường Nguyễn Bá Ngọc (huyện Thọ Xuân) khi chỉ mới 18, 19 tuổi, bà không tránh khỏi những lúc lúng túng. Xe đi ban đêm, tắt hết đèn để giữ bí mật, cho nên các thầy cô bảo mẫu cũng không nhớ hết mặt trẻ. Trên đường đi bom rơi đạn nổ, trẻ con thì khóc vì sợ, khóc vì nhớ bố mẹ. Có nhiều đoạn đường phải đi bộ, cô bảo mẫu phải đeo giúp ba lô, tay nải, thậm chí có những cháu mệt quá không đi nổi, bảo mẫu phải cõng. Trèo đèo lội suối, túi đeo phía trước, phía sau, lưng cõng tay dắt, cứ thế bà Thiều cùng những đứa trẻ lầm lũi vượt qua từng mét đường.
“Tôi không thể nào quên được hình ảnh những đứa trẻ còn thơm sữa mẹ, òa khóc khi rời xa vòng tay gia đình. Có vài em còn nhảy khỏi xe, đòi về nhà khiến các thầy, cô giật mình thon thót. Gia đình nào có nhiều con phải chia ra nhiều xe, để tránh gặp rủi ro, xe này chẳng may trúng bom chết thì còn anh, chị, em ở xe khác”, ánh mắt bà nhìn xa xăm khi nghĩ về chuyện cũ.
Đến tận bây giờ, bà Lê Thị Thiều vẫn day dứt khi nhớ về cậu học trò nhỏ tên Sơn mà bà đã chăm bẵm suốt quãng đường tản cư từ Vĩnh Linh ra Thanh Hóa.
“Trong đầu tôi vẫn nhớ rõ mồn một hình bóng của Sơn. Cậu bé chỉ chừng 6, 7 tuổi. Năm 1967, chúng tôi phát hiện Sơn bị bệnh tim và phải chữa trị suốt thời gian dài ở Bệnh viện đa khoa Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Thế nhưng, lúc đó, y học còn hạn chế, lại trong chiến tranh, điều kiện vô cùng thiếu thốn. Bệnh của Sơn ngày càng nặng thêm”, bà Thiều kể lại.
“Những ngày cuối đời của Sơn, tôi luôn cận kề em, ôm em vào lòng. Dường như, Sơn cũng cảm nhận được điều gì đó nên cứ nắm tay tôi và nói ‘cô ơi, cô ngồi với em, đừng đi nghe’. Sơn mất để lại trong tôi nhiều niềm tiếc nuối”, mắt bà rưng rưng khi nhớ đến cậu học trò cũ.
“Thực ra, trong thời chiến tranh, ly biệt là chuyện thường tình. Chiến tranh kết thúc, không ít học sinh K8 ngày trở lại quê hương mất cả cha lẫn mẹ. Bây giờ ngẫm lại, dù còn nhiều day dứt nhưng lòng tôi cũng vơi đi phần nào khi mọi chuyện đã qua”, bà Thiều chia sẻ.


