Ký ức về người mẹ nuôi giấu 7 dũng sĩ Thanh Khê
Mẹ Lê Thị Dảnh, nhân vật tượng đài sừng sững giữa trung tâm TP Đà Nẵng, bị tra tấn đến chết nhưng quyết không khai nơi nuôi giấu các chiến sĩ biệt động.
Mẹ Lê Thị Dảnh, nhân vật tượng đài sừng sững giữa trung tâm TP Đà Nẵng, bị tra tấn đến chết nhưng quyết không khai nơi nuôi giấu các chiến sĩ biệt động.
Trên đường Điện Biên Phủ, cửa ngõ trung tâm TP Đà Nẵng, tượng đài Mẹ dũng sĩ Thanh Khê đứng hiên ngang suốt 39 năm qua. Trong số 7 dũng sĩ được cách điệu "như những chú gà con núp dưới cánh gà mẹ", đến nay duy nhất nữ anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Thị Tám, 72 tuổi, còn sống.
Bà Tám quê ở Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, tham gia cách mạng từ năm 14 tuổi với nhiệm vụ vận chuyển tài liệu, truyền đơn tại vùng đô thị Đà Nẵng do chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát. Để che giấu, bà Tám đi ở đợ cho một nhà ở quận Nhì (nay là quận Thanh Khê). Gần đó là nhà mẹ Dảnh, có tài liệu ghi là Dãnh.
Sau chiến dịch Tết Mậu Thân năm 1968, Đặc khu ủy Quảng Đà vẫn duy trì các căn cứ cách mạng ở vùng núi Hải Vân và Tây Bắc Đà Nẵng, chỉ thị hình thành cơ sở cách mạng trong nội đô. Tại vùng Thanh Khê, cửa ngõ vào trung tâm thành phố có nhà mẹ Dảnh (còn gọi là mẹ Nhu theo tên người con trai cả) và nhà mẹ Hiền nhận nuôi giấu cán bộ cách mạng.
Nhà mẹ Nhu và mẹ Hiền cách nhau 300 m, nằm sâu trong con hẻm quanh co, thông sang nhiều ngõ, hẻm khác trên đường Trần Cao Vân, cách vịnh Đà Nẵng vài trăm mét. Từ năm 1967, mẹ Nhu đã cho đào hầm bí mật ngay trong căn nhà vách tre để làm nơi trú ẩn cho cán bộ, chiến sĩ biệt động.
Bà Tám làm nhiệm vụ giao liên bí mật một thời gian thì bị lộ, phải rút vào hoạt động bí mật ở nhà mẹ Nhu. Bà ở cùng các anh Nguyễn Văn Huề, Trần Thanh Trung và Lữ Hùng. Một tổ khác gồm các anh Chi, Mười, Năm, Phương trú ẩn ở nhà mẹ Hiền.
Bất kể nắng mưa, các chiến sĩ hầu hết ở dưới hầm để tránh bị phát hiện. Căn hầm hình tam giác, đỉnh cao khoảng 1,4 m, rộng 1,5 m, dài 3 m. Miệng hầm, nơi lấy sáng duy nhất, chỉ vừa một người trưởng thành lên xuống. Giữa hầm đục một lỗ thông hơi lấy không khí.
Buổi sáng, mẹ Nhu đi mua đồ ăn về nuôi chiến sĩ. "Mẹ thường mua hai ổ bánh mì ở quán này, rồi giấu vào trong giỏ, đi thêm vài trăm mét mua hai ổ khác để tránh bị phát hiện", bà Tám kể. Đêm xuống, chờ mẹ Nhu hoặc con trai mẹ là anh Phạm Phú Long ra tín hiệu an toàn, chiến sĩ dưới hầm mới lên tắm giặt, ăn uống và đi làm nhiệm vụ.
Nhiệm vụ của đội biệt động là phá kìm, tiêu hao sinh lực địch; đánh địch bằng mọi cách để gây tiếng vang, tiến lên làm chủ từng khu vực, từng phường, chuẩn bị thời cơ nổi dậy. Đêm 23/12/1968, sau trận tập kích vào đồn Bảo An, cầu Phú Lộc của lính Việt Nam Cộng hòa, các chiến sĩ biệt động về trú ẩn tại nhà mẹ Nhu và mẹ Hiền. Hôm sau, mọi người nghỉ ngơi chờ dư âm trận đánh lắng xuống. Tối 25/12, Lữ Hùng báo với anh em sang nhà mẹ Hiền bàn việc.
"Không ngờ Lữ Hùng lại ra ngã ba Thanh Khê để chiêu hồi quân địch", bà Tám kể. Mọi người phát hiện ông Hùng phản bội khi sáng hôm sau nghe tiếng trên trực thăng, liên tục cầm loa đọc tên các chiến sĩ trong nhóm biệt động và kêu gọi mọi người ra hàng.
Ở dưới đất, nhiều tốp lính bộ của Việt Nam Cộng hòa và Mỹ đến nhà mẹ Nhu. Toàn bộ khu vực bị bao vây. Anh Phạm Phú Long ra nói chuyện, lập tức bị khống chế và tra tấn, ép chỉ chỗ các chiến sĩ trú ẩn. Do kiên quyết không khai, anh Long bị bắt đi. Quân địch chuyển sang tra tấn mẹ Nhu.



