Ký ức về những bước chân không mỏi trên đại ngàn
Bài viết ghi lại những kỷ niệm hào hùng nhưng cũng đầy gian khổ của bác Nguyễn Văn Hùng – một người lính công binh trong những năm tháng rực lửa của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Qua lời kể của bác, một thời hoa lửa hiện lên không chỉ bằng tiếng bom đạn mà còn bằng tình đồng đội sắt son và ý chí quyết thắng của tuổi trẻ thời đại bấy giờ.
Trong cái nắng hanh vàng của những ngày tháng Năm lịch sử, tôi có dịp được ngồi lại cùng bác Nguyễn Văn Hùng, một người con của quê hương đất thép, nay đã ở cái tuổi thất thập cổ lai hy. Trên khuôn mặt hằn in vết bụi thời gian, đôi mắt bác rực sáng khi nhắc về một thời "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Với những sinh viên thế hệ K59 như chúng tôi, những câu chuyện của bác không chỉ là lịch sử, mà là một bản hùng ca về lòng yêu nước. Những ngày đầu xếp bút nghiên lên đường Năm 1971, khi đang là một chàng thanh niên tràn đầy nhựa sống, nghe theo tiếng gọi thiêng lanh của Tổ quốc, bác Hùng tạm biệt gia đình, gác lại những dự định cá nhân để lên đường nhập ngũ. Bác kể, ngày đó đi lính là một niềm tự hào vô hạn. Hành trang mang theo chỉ là chiếc ba lô con cóc, đôi dép cao su đúc và một trái tim nóng hổi chí khí quyết tâm.
Bác được biên chế vào Sư đoàn 304, đơn vị chủ lực có mặt tại những chiến trường ác liệt nhất. Bác nhớ lại những ngày hành quân xuyên đêm trên dãy Trường Sơn. Đại ngàn xanh thẳm nhưng ẩn chứa biết bao hiểm nguy: sốt rét rừng, rắn độc và đặc biệt là những trận mưa bom bão đạn của kẻ thù đổ xuống hòng chặn đứng tuyến đường chi viện cho miền Nam. Bác bảo: *"Lúc đó, cái chết cận kề lắm, nhưng chẳng ai sợ. Chỉ sợ mình không đủ sức để đi tiếp cùng anh em, không kịp vào chiến trường để góp sức."Ký ức về những trận đánh không quên Câu chuyện của bác dừng lại lâu hơn ở thời điểm năm 1972 – mùa hè đỏ lửa tại Quảng Trị. Bác kể về 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ, nơi mà mỗi tấc đất đều thấm đẫm máu của đồng đội. Tiếng pháo gầm vang, khói lửa mù mịt che cả mặt trời, nhưng tinh thần "còn người còn trận địa" đã giúp những người lính trẻ đứng vững. Nhưng có lẽ, kỷ niệm sâu sắc nhất chính là những ngày tháng 4 năm 1975. Khi đó, đơn vị của bác nằm trong đội hình tiến về Sài Gòn. Bác nhớ như in cảm giác hối hả, thần tốc. "Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa" – khẩu lệnh ấy vang lên khắp các cánh quân. Bác kể, có những đêm hành quân không ngủ, đôi chân rướm máu vì đường rừng nhưng khi nghe tin quân ta thắng trận ở các cửa ngõ, ai nấy đều như có thêm sức mạnh phi thường. Ngày 30/4/1975, khi chiếc xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập, bác Hùng đang cùng đơn vị tiến vào nội đô. Cảm giác vỡ òa khi thấy cờ đỏ sao vàng tung bay, người dân đổ ra đường reo hò, nước mắt bác rơi vì hạnh phúc và cũng vì thương nhớ những đồng đội đã ngã xuống ngay trước ngưỡng cửa của hòa bình. Tình đồng đội – Ánh sáng giữa thời hoa lửa Giữa bom đạn ác liệt, thứ duy nhất giúp những người lính vượt qua chính là tình đồng đội. Bác kể về những lần chia nhau điếu thuốc lào, nhường nhau bát cơm vàng hay những lá thư tay viết vội dưới ánh đèn dầu lập lòe trong hầm chữ A. Có những người bạn mới hôm qua còn ngồi bên nhau kể về người yêu ở quê nhà, nay đã mãi mãi nằm lại dưới tán rừng già.
Bác xúc động nói: "Chiến tranh không chỉ có tiếng súng, nó còn có những khoảng lặng của tình người. Chúng bác coi nhau như anh em ruột thịt, sẵn sàng hy sinh mạng sống để bảo vệ đồng đội. Đó là sức mạnh mà không loại vũ khí nào của kẻ thù có thể đánh bại được."Lời nhắn nhủ cho thế hệ hôm nay Kết thúc câu chuyện, bác nhìn tôi, ánh mắt hiền từ nhưng đầy kỳ vọng. Bác bảo, thế hệ các cháu K59 bây giờ được học tập trong điều kiện hiện đại, được tiếp cận với công nghệ, máy móc tiên tiến – điều mà thời của các bác là một giấc mơ xa xỉ. Khoa Điện tử mà các cháu đang theo học chính là nòng cốt để xây dựng đất nước mạnh giàu về công nghệ. Bác nhắn nhủ: "Hòa bình hôm nay được đổi bằng xương máu. Các cháu hãy sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh đó. Đừng chỉ học cho mình, hãy học để đưa đất nước đi lên, để không ai có thể xem thường dân tộc Việt Nam."



