Cựu chiến binh

Ký Ức Về Thời Đạn Bom: Chuyện Kể Của Người Nữ Quân Nhân Đường Dây 559 – bà Nguyễn Thị Xuyên

Tuổi mười tám tự nguyện khoác áo lính, giữ lời thề son sắt nơi Đường 559; Bà qua lửa đạn đổi lấy hòa bình, gửi lại thế hệ sau trách nhiệm 'Ăn quả nhớ người trồng cây'.

Hải Phòng11/11/2025Đinh Thị Thúy Hà (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Nam Thanh Miện)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Ký Ức Về Thời Đạn Bom: Chuyện Kể Của Người Nữ Quân Nhân Đường Dây 559 – bà Nguyễn Thị Xuyên

Ký Ức Về Thời Đạn Bom: Chuyện Kể Của Người Nữ Quân Nhân Đường Dây 559 – bà Nguyễn Thị Xuyên

Tiếp tục trên Hành trình tìm về với những “Câu chuyện thời hoa lửa”, hôm nay, tôi được lắng nghe câu chuyện về những năm tháng chiến tranh hào hùng của một người nữ quân nhân – bà Nguyễn Thị Xuyên, sinh năm 1947, trú tại thôn Phù Tải 1, xã Nam Thanh Miện, thành phố Hải Phòng. Ngồi đối diện với bà, tôi cảm nhận được sự điềm tĩnh và nghị lực được tôi luyện qua những năm tháng bom đạn. Giọng bà chậm rãi, đưa tôi trở lại những ngày tuổi trẻ sôi nổi, khi vận mệnh cá nhân hòa vào vận mệnh Tổ quốc. Đây là câu chuyện về một người nữ quân nhân đã đi qua chiến tranh bằng trái tim sắt son và lời thề bất diệt.

Năm ấy, bà vừa tròn mười tám tuổi. Khi cả nước đang chìm trong khói lửa chiến tranh, bà hiểu rằng trách nhiệm không chỉ của riêng ai, không một lời thúc ép, không một chút do dự, bà đã tự tay viết đơn tình nguyện xin được nhập ngũ và vào bộ đội. Đó là một quyết định tự nguyện, không bị chi phối bởi gia đình; thậm chí, bà còn là người con đầu tiên trong gia đình lên đường nhập ngũ, tiếp nối sau đó là bước chân của người anh trai đã trở thành liệt sĩ.

Kỷ niệm đầu tiên bà nhớ rõ nhất không phải là tiếng súng, mà là giây phút đứng trong hàng ngũ, tuyên thệ. Lời thề ấy khắc sâu vào tâm khảm, trở thành kim chỉ nam cho cả cuộc đời: “Hy sinh tất cả, hoàn thành mọi nhiệm vụ, vượt qua mọi khó khăn và đánh thắng mọi kẻ thù”.

Bà được phân công vào đường dây 559 lịch sử, với nhiệm vụ chính là giao liên và chuyển thương.

Nhiệm vụ giao liên là một hành trình gian khổ, gắn liền với rừng sâu và đêm tối. Bà phải đưa anh đồng đội vào chiến trường, đi từ trạm này đến trạm khác. Để tránh tai mắt quân địch, việc di chuyển phải diễn ra trong đêm với sự nguy hiểm luôn rình rập, nhưng bà không được phép lạc lối. Bà đã học được cách bẻ lá để đánh dấu, và chỉ dám dùng một chút ánh sáng nhỏ từ đèn pin để soi đường. "Khi đi thì bộ đội rất đông đi với đoàn, khi về chỉ có mỗi một mình thôi" bà trầm ngâm kể lại. Sự cô độc và nỗi sợ hãi trong đêm đen dường như vẫn còn vương lại trong ký ức.

Bên cạnh giao liên, bà còn là người chuyển thương tại Trạm quân y. Công việc là băng bó, cứu thương. Đó là những ngày tháng đối diện trực tiếp với sự sống và cái chết.

Bà kể lại một sự kiện ám ảnh: đoàn xe chở thương binh của bà bị địch đánh trúng ngay giữa đội hình, làm cháy mất ba chiếc xe. Trong tình cảnh hỗn loạn đó, có những người lính bị thương nặng, có những người lính vĩnh viễn nằm lại, bà và đồng đội phải khẩn trương liên hệ với nhân dân địa phương để cõng thương binh vào, nhờ dân quân nuôi dưỡng qua đêm. Rồi khi màn đêm buông xuống, họ lại tiếp tục ra đường để tiếp tục hành trình chuyển thương. Bà kể rằng, đã hút chết mấy lần trong những chuyến đi đầy gian nguy ấy.

Cuộc sống của nữ quân nhân thời ấy là sự thách thức không ngừng nghỉ cả về thể xác và tinh thần. Bà kể về những điều kiện sinh hoạt tột cùng khắc nghiệt: có khi cả tháng không được tắm gội, tóc rụng hết. Quần áo ẩm ướt cũng không dám phơi vì sợ địch phát hiện, phải lợi dụng bếp Hoàng Cầm để hong khô. Họ sống trong nỗi lo lắng thường trực, phải chui xuống hầm khi bom đạn dội xuống, di chuyển trên những cung đường dốc núi cao, vực thẳm chỉ một sơ sẩy là mất mạng.

Nhưng chính trong gian khó, ngọn lửa nghị lực trong bà lại càng cháy sáng. Động lực duy nhất của bà là lời thề đã khắc vào tim: "Khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Bà đã kiên trì thực hiện nhiệm vụ từ tháng Tám năm 1965 cho đến khi đất nước dần yên tiếng súng, và bà ra quân vào năm 1973.

Năm 1973, bà được ưu tiên trở về miền Bắc công tác theo chế độ dành cho nữ quân nhân. Chính tại Trại Thương binh 4, bà đã gặp gỡ chồng hiện tại của bà.

Dù tuổi già, bà mang trong mình nhiều di chứng của chiến tranh và bệnh tật, nhưng ánh mắt bà vẫn ánh lên niềm tự hào và giọng bà vẫn đầy nhiệt huyết khi nhắn gửi đến thế hệ trẻ: Bà mong muốn thế hệ trẻ phải trân trọng những thành quả mà ông cha ta đã đổ xương máu để giành lại độc lập, tự do. Bà nhấn mạnh tinh thần "Ăn quả nhớ người trồng cây", và thế hệ trẻ cần phải có trách nhiệm bảo vệ, gìn giữ đất nước vững mạnh, sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ khi Tổ quốc cần./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn