Kỷ vật bi tráng của những cựu tù Hồi ức "phòng biệt giam"
Đến Bảo tàng Chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù đày, nhiều người đã rùng mình trước mô hình tái hiện khu biệt giam vải bạt. Những nhân chứng sống hiếm hoi còn lại tới nay vẫn bị ám ảnh về hình thức tra tấn khủng khiếp nhất ở nhà tù Phú Quốc.
Địa ngục trong lòng địa ngục
"Nếu nhà lao Phú Quốc được coi là "địa ngục trần gian" thì "phòng biệt giam" chính là nơi đày ải kinh hoàng nhất" - ông Nguyễn Trọng Cư (quê ở xã Hợp Thành, Yên Thành, Nghệ An, tên trong tù là Lê Thu) bồi hồi nhớ lại.
Nhập ngũ năm 1965, ông Cư là cán bộ Đại đội 4, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 812. Ngày 21/5/1968, trong trận đụng độ với thủy quân lục chiến Mỹ tại xã Hải Vĩnh, huyện Hải Lăng, Quảng Trị, ông bị thương rồi bị địch bắt. Tháng 7 năm đó, chúng đưa ông ra Phú Quốc.
Trong một thời gian ngắn ông đã bắt liên lạc với các đồng chí đảng viên trong nhà lao, trực diện đấu tranh với kẻ thù đòi quyền sống, được anh em tin tưởng bầu làm Bí thư chi bộ. Tháng 8/1970, khi đang bị giam ở trại biệt lập C4, ông chỉ huy anh em đào hầm vượt ngục. Sự việc bại lộ, anh em đã giết tên chiêu hồi. Sau đó, tổ chức đảng phân công ông Cư cùng một đồng chí khác đứng ra nhận tội, không để kẻ thù có cớ khủng bố cả trại. Cả hai người sau đó bị đưa vào "phòng biệt giam A2" - nơi tách biệt hoàn toàn với các khu khác trong nhà tù khổng lồ Phú Quốc.
Gần 200 con người lèn chặt vào nhau trong diện tích chưa đầy 30m2 ấy. Gọi là phòng nhưng thật ra là một cái hộp lớn, cao khoảng 2m, lợp tôn hoặc vải bạt, bốn phía chăng dây thép gai. Anh em người nằm phải gác hai chân lên vai người ngồi, người đứng thì khom mình để tránh dội đầu vào dây thép gai chăng đầy trên trần. "Cái hộp" đặt ở ngoài trời, ngày nắng thiêu người, đêm sương buốt óc.
Chế độ ăn uống ở đây cũng hà khắc nhất. Mỗi người một ngày được một vắt cơm bằng quả trứng, thêm nhúm muối. Bọn quản ngục bữa nào cũng giám sát để anh em đi phát cơm không thể trộn thức ăn tiếp tế. Nước uống cả ngày chỉ có một ca nhỏ.
Với ông Trần Ka (phường Nam Ngạn, TP Thanh Hoá), 3 tháng trong phòng biệt giam B2 là quãng thời gian kinh hoàng không thể nào quên. Ông bị đưa ra Phú Quốc sau khi bị bắt ở xã Phổ Cường huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi trên đường đi tiếp tế cho đơn vị bạn vào ngày 27/7/1967. Một lần nhận nhiệm vụ đi đổ thùng tiêu, ông được tổ chức cử mang kim và chỉ đỏ cho anh em ở phòng biệt giam B2. Sự việc bại lộ, tên giám thị Nhu khét tiếng đã đập nát bàn tay ông rồi đẩy ông vào phòng ấy. Không khí ngột ngạt hôi hám bởi hơi nồng của da thịt lèn lên nhau, mùi vết thương và máu, mùi xú uế... cùng hàng trăm thứ mùi hỗn tạp khác trong cái nhà mồ sống còn ám ảnh ông đến tận bây giờ. Ai đó nghĩ ra cách: giăng quần áo thành dây rủ lùng thùng xuống, rồi hai người đứng hai bên thay nhau kéo qua kéo lại, lấy tí gió để anh em khỏi chết ngạt. "Cái thùng tiêu có nắp đậy ở góc phòng, chỉ những ai đau yếu mới được ưu tiên ngồi trên vì chỗ ấy thoáng gió. Vậy mà cũng phải nhường nhau" - ông Ka ngậm ngùi nhớ lại.
Luôn có Đảng dẫn đường
Ra khỏi phòng biệt giam, ông Ka chỉ còn da bọc xương. Còn ông Cư, sau 8 tháng đày đọa, gày gò tiều tụy, tóc dài đến ngang lưng.
Những tưởng trong hoàn cảnh đen tối vô hạn đó, cùng với sức khoẻ, ý chí, nghị lực của người tù cũng bị cùng kiệt. Nhưng như một phép lạ, họ vẫn sống. Và vẫn trọn vẹn niềm tin với Đảng.
“Lần đầu ra thăm bảo tàng vào năm 2006, nhìn mô hình phòng biệt giam A2, tôi đã bật khóc. Phần vì không thể tin được mình vẫn còn sống sau những ngày tàn khốc ấy, phần vì tưởng nhớ biết bao đồng chí đã hi sinh nơi đất đảo anh hùng”- Ông Cư tâm sự.
Vào phòng biệt giam, ông Cư vẫn là Bí thư chi bộ. Ông đã cùng anh em tổ chức lễ kỉ niệm Quốc khánh 2/9 với đầy đủ nghi thức: Người đứng, người nằm, người ngồi nhưng ai cũng trang nghiêm trong phút chào cờ, rồi thầm hát Quốc ca, sau đó các đồng chí cán bộ kể cho anh em nghe lịch sử của ngày Quốc khánh và tấm gương anh dũng trong lao tù của các vị tiền bối khi xưa. Tất cả nhằm củng cố niềm tin và tinh thần kiên trung bất khuất của các chiến sĩ trong cảnh tù đày.
Khi địch phát hiện ra buổi lễ đặc biệt này, chúng lôi ông Cư lên phòng điều hành tra tấn suốt một ngày. Lúc trở về, người ông đã bầm dập đầy máu. Trước khi ngất lịm đi, ông còn gượng cười động viên các đồng chí.
Sở dĩ anh em trong phòng biệt giam kiên cường đến vậy là vì nhờ sợi dây tiếp sức bền bỉ từ tổ chức Đảng bên ngoài. Sợi chỉ đỏ và kim mà ông Ka được cử đưa vào phòng biệt giam B2 chính là tín hiệu ngầm: "Đảng luôn ở bên hỗ trợ anh em. Hãy vững tin, kiên trì trong cuộc đấu tranh với địch".
Không chỉ động viên về tinh thần, tổ chức Đảng trong nhà lao còn hết sức tiếp tế cho anh em trong phòng biệt giam. Ở trại B2, tổ chức chỉ đạo nhà bếp bớt khẩu phần thức ăn (cá liệt, su su) xay thành nước cốt nấu cùng cơm; cơm cháy rang lên, sao vàng, nấu thành nước uống rồi mang cho anh em biệt giam. Dưới đáy thùng nước bao giờ cũng có những gói muối nhỏ để anh em hoà cùng nước tiểu, sát trùng vết thương.
Sự đùm bọc yêu thương, tình đồng chí đồng đội cùng sự lãnh đạo thống nhất, sâu sát của tổ chức Đảng trong nhà lao là động lực sống của những người chiến sĩ giữa nơi "địa ngục trong địa ngục" ấy. Và chốn lao tù kinh hoàng lại thành nơi trui rèn ý chí sắt đá, củng cố niềm tin tuyệt đối vào Đảng, vào Cách mạng ở những người tù Cộng sản.


