Kỷ vật chiến trường là vô giá
Kỷ vật chiến trường là vô giá
1 tấm chăn dù pháo sáng, Huân chương Chiến công và 1 bông hồng bằng nhung đeo ngực áo tại Đại hội Chiến sĩ thi đua anh hùng toàn miền Nam năm 1971, Anh hùng Nguyễn Văn Nhương còn lưu giữ nhiều kỷ vật chiến trường mà ông chưa từng công bố.

Anh hùng Nguyễn Văn Nhương và tấm mica đắp nổi bức phù điêu Chủ tịch Hồ Chí Minh-kỷ vật ông được trao tặng nhân dịp khen thưởng đảng viên “4 tốt” năm 1976. Ảnh: Phương Duyên
Nâng niu cuốn sổ nhỏ bé lọt lòng bàn tay, bìa đã cũ ố, gáy xộc xệch, ông kể: Cuốn sổ này ông được tặng tại Đại hội Chiến sĩ thi đua của Trung đoàn 95 lần thứ 7-1971, bên ngoài có lời đề tặng của Chính ủy Trung đoàn Lê Thư.
Ông hồi tưởng: Năm 1968, mãi đến khi đã bắn rơi 7 chiếc máy bay Mỹ, được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công, ông vẫn chưa được kết nạp vào Đảng. Một sáng tháng 8, Chính ủy Lê Thư tìm gặp ông với câu hỏi: “Đồng chí thấy mình đã đủ tiêu chuẩn để đứng vào hàng ngũ của Đảng chưa?”. Ông trả lời: “Tôi cũng không biết là đã đủ hay chưa. Nếu chưa thì tôi nguyện vẫn là người chiến sĩ Quân Giải phóng chiến đấu để bảo vệ, thống nhất đất nước”. Sáng hôm sau, ông lập tức có quyết định kết nạp vào Đảng ngay tại trận địa. Anh hùng Nguyễn Văn Nhương vẫn nhớ như in, đó là vào ngày 15-8-1968.
Quay lại câu chuyện về tặng phẩm tại Đại hội Chiến sĩ thi đua của Trung đoàn năm 1971. Dù chỉ là cuốn sổ nhỏ nhưng ông Nhương vô cùng trân quý. Trong đó, ông dành nhiều trang chép danh sách, quê quán đồng đội. Giấy hiếm, mực ít, sổ quá nhỏ nên viết chữ cũng li ti.
“Những anh em trong Trung đoàn khi vào Nam đều được lập 2 bản lý lịch trích ngang, 1 bản chỉ có danh sách ghi họ tên, 1 bản chỉ ghi quê quán (theo thứ tự đúng như bản danh sách). Khi đó, tôi là Chính trị viên Đại đội 14 (sau này là Đại đội súng máy 12,7 ly) nên được giữ bản số 1, Chính trị viên phó giữ bản số 2, phòng khi bị địch phát hiện thì cũng không khai thác được manh mối gì. Tháng 3-1971, khi biết tin chuẩn bị nhận công tác mới, tôi viết lại đầy đủ tên tuổi, quê quán anh em để khi ra Bắc có điều kiện sẽ ghé thăm, báo tin cho gia đình”-Anh hùng Nguyễn Văn Nhương kể lại.
Từ danh sách này, khi rời chiến trường ra miền Bắc học tập tại Học viện Chính trị trung-cao cấp vào cuối năm 1972, đầu năm 1973, ông đã tìm đến thăm nhà vài đồng đội ở Hà Nội và vùng lân cận. Nhiều gia đình không khỏi xúc động, ôm chầm lấy ông mà khóc.



