Kỷ vật của người chiến sĩ xe tăng quân tình nguyện Việt Nam
Kỷ vật của người chiến sĩ xe tăng quân tình nguyện Việt NamCuối tháng 6 năm 2007, tại Bảo tàng lực lượng Tăng Thiết giáp diễn ra cuộc gặp mặt rất cảm động của các Cựu chiến binh đã từng công tác, chiến đấu thuộc Lữ đoàn xe tăng 203. Trong không khí đầm ấm của những người đã từng kinh qua lửa đạn chiến tranh, chúng tôi đã gặp và trao đổi với Đồng chí Đoàn Văn Môn (hiện là Bí thư Đảng uỷ - Đại tá - Chính uỷ Trường Sỹ quan Tăng Thiết giáp) để tìm hiểu thông tin về những hiện vật cá nhân đồng chí đã tặng cho Bảo tàng.
Đứng lặng trước những kỷ vật thiêng liêng, đã một thời gắn bó trong thời gian đi làm nhiệm vụ tại nước bạn Campuchia, đồng chí bồi hồi nhớ lại:
Với phương châm “giúp bạn là tự giúp mình”, sau năm 1979, lực lượng Tăng Thiết giáp quân tình nguyện Việt Nam cùng với các quân, binh chủng khác tiếp tục làm nghĩa vụ Quốc tế trên đất bạn Campuchia, đứng chân trên các địa bàn chiến lược quan trọng và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao: vừa đánh địch vừa giúp bạn củng cố, xây dựng lực lượng để bảo vệ chính quyền cách mạng, tạo điều kiện cho quân tình nguyện Việt Nam rút về nước.
Tháng 9 năm 1989, lực lượng quân tình nguyện Việt Nam rút hết về nước theo thoả thuận giữa hai Đảng, hai Nhà nước và Quân đội nhân dân hai nước. Nhưng sau đó, tình hình nước bạn có nhiều diễn biến phức tạp, bạn tiếp tục đề nghị ta đưa lực lượng sang giúp bạn bảo vệ sân bay Pu-chen-tông và một số kho vũ khí. Thực hiện chủ trương trên, Tiểu đoàn tăng M42 (xe hệ 2 thu được của Mỹ) mang phiên hiệu 1089 được thành lập, để làm nhiệm vụ giúp bạn. Đơn vị gồm 14 sỹ quan, 75 hạ sỹ quan, 10 quân nhân chuyên nghiệp, được trang bị 15 xe tăng M42, 3 xe tải, 1 xe chở vật tư và trang bị kỹ thuật.
Trong thời gian này, mặc dù bị lực lượng cách mạng truy quét và trấn áp dữ dội, nhưng bọn phản động Khơ me đỏ vẫn chưa chịu từ bỏ ý đồ phá hoại cách mạng, giành lại quyền kiểm soát đất nước Campuchia. Chúng đã khôi phục lực lượng và xây dựng được một số căn cứ quân sự, bố trí dọc Biên giới Campuchia - Thái Lan và sâu trong nội địa. Từ các căn cứ trên, hàng ngày địch tăng cường quấy phá, gây tội ác với nhân dân, mặt khác chúng tiếp tục dùng các thủ đoạn ngoại giao, tâm lý hòng ép ta và bạn phải đi tới những thoả thuận có lợi cho chúng. Vì vậy, khi sang nhận nhiệm vụ, đoàn cán bộ của ta phải tuyệt đối giữ bí mật, toàn bộ quân trang, quân dụng của Tiểu đoàn tăng 1089 là trang bị của quân đội cách mạng Campuchia, để thuận tiện khi thực hiện nhiệm vụ.
Lúc này, đồng chí Đoàn Văn Môn mang cấp bậc thiếu tá, giữ chức Phó Tiểu đoàn trưởng về chính trị Tiểu đoàn 1089. Trong số những quân tư trang cá nhân do nước bạn trang bị, khi về nước đồng chí vẫn còn giữ được 1 chiếc mũ mềm, 1 bi đông đựng nước, 1 bộ quân hàm, 1 khăn cà ma và một con dao găm (hiện nay những hiện vật này đang được trưng bày tại Bảo tàng Lực lượng Tăng Thiết giáp).
Đồng chí xúc động nói:“Đây là những kỷ vật đã gắn bó với tôi trong những lần băng rừng, vượt đèo, lội suối đi báo cáo tình hình đơn vị với đoàn chuyên gia quân sự Bộ Quốc phòng của ta tại Campuchia. Có hai lần những kỷ vật đó đã để lại trong tôi những kỷ niệm sâu sắc về những năm tháng chiến đấu và làm nhiệm vụ tại nước bạn.”
Lần thứ nhất, vào tháng 6 năm 1990, theo yêu cầu của phía bạn, ta đã điều một đại đội xe tăng lên U-Đông thuộc tỉnh Công-pông-sư-phu làm nhiệm vụ bảo vệ kho vũ khí. Để chuẩn bị cho công tác chuyển quân được bí mật, an toàn, tôi đã cùng lực lượng trinh sát luồn sâu vào khu vực giáp ranh, cách sân bay Pu-chen-tông khoảng 100 km tìm hiểu địa hình và nắm tình hình hoạt động của bọn Pônpốt. Khi nhận nhiệm vụ này, chúng tôi đã được quán triệt: Bằng mọi cách phải giữ được bí mật, an toàn và nắm chắc được tình hình địch, không được chủ quan vì thời gian này địch hoạt động ráo riết, liều mạng, tàn ác và khát máu. Mặc dù đoạn đường chỉ khoảng 100 km nhưng vừa đi, vừa phải nắm tình hình, lại phải tuyệt đối giữ bí mật, tránh đụng độ với thám báo nên đoàn phải đi mất gần 1 tuần. Lúc này thời tiết nước bạn đang vào mùa khô, nguồn nước sạch rất khan hiếm. Trong khi đó tổ trinh sát chỉ mang theo 3 bi đông nước sạch để uống, chúng tôi không dám dùng nước suối vì sợ địch rải chất độc, không dám vào nhà dân xin nước vì sợ lộ bí mật. Những lúc khát quá phải chặt chuối rừng nhai cho đỡ khát. Chỉ với 3 bi đông nước cho gần 7 ngày hành quân, chúng tôi phải sử dụng thật dè sẻn và chia nhau đến giọt nước cuối cùng. Vượt qua tất cả những khó khăn ấy, chúng tôi đã đi đến điểm trinh sát đảm bảo bí mật, an toàn tuyệt đối. Chính chiếc bi đông này đã góp phần giúp tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Sau lần đó chừng hai tháng, những vật dụng trên lại cùng tôi đi làm một nhiệm vụ quan trọng khác là đón đoàn chuyên gia quân sự của ta do đồng chí Thượng tá Nguyễn Việt Hùng - Phó Hiệu trưởng - Trưởng phòng Huấn luyện - Trường Sỹ quan Chỉ huy Kỹ thuật Tăng làm Trưởng đoàn (trong chuyến công tác sang giúp bạn xây dựng chương trình huấn luyện chuyên ngành Tăng Thiết giáp tại Trường Lục quân của bạn) – về thăm và triển khai nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn. Chuyến đi ấy, tôi cùng 4 đồng chí chiến sĩ trong trung đội trinh sát của tiểu đoàn, được trang bị 4 khẩu súng AK với đủ cơ số đạn, riêng tôi còn mang theo 1 con dao găm để phòng thân và sử dụng trong sinh hoạt. Trên đường đi, nhóm chúng tôi đã nhiều lần gặp thú dữ và đụng độ với bọn địch, buộc phải nổ súng tiêu diệt. Nhiệm vụ chưa hoàn thành mà số đạn mang theo đã gần hết. Trong tình huống ấy, chúng tôi đã chuẩn bị tinh thần sẵn sàng dùng dao găm để chiến đấu trong trường hợp gặp địch và bằng mọi giá phải đảm bảo an toàn cho cấp trên. Và cuối cùng chúng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, đón Thủ trưởng Hùng về đơn vị an toàn, trước sự mừng vui của toàn thể cán bộ, chiến sĩ. Từ đó con dao găm luôn được tôi giữ bên mình và trở thành vật kỷ niệm thiêng liêng của đời quân ngũ, nó đã gợi lại trong tôi bao kỷ niệm của một thời sống, chiến đấu trên đất nước Chùa Tháp.
Với mong muốn được gửi gắm những hành trang, ký ức trong cuộc đời binh nghiệp, đồng chí Đoàn Văn Môn đã trao tặng những hiện vật trên cho Bảo tàng Lực lượng Tăng Thiết giáp lưu giữ làm tư liệu giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Truyền thống chính là chiếc cầu nối liền giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, những kỷ vật đó sẽ góp phần nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay hãy biết tựa mình vào truyền thống để vững bước tiến lên trên con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn.
Với phương châm “giúp bạn là tự giúp mình”, sau năm 1979, lực lượng Tăng Thiết giáp quân tình nguyện Việt Nam cùng với các quân, binh chủng khác tiếp tục làm nghĩa vụ Quốc tế trên đất bạn Campuchia, đứng chân trên các địa bàn chiến lược quan trọng và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao: vừa đánh địch vừa giúp bạn củng cố, xây dựng lực lượng để bảo vệ chính quyền cách mạng, tạo điều kiện cho quân tình nguyện Việt Nam rút về nước.
Tháng 9 năm 1989, lực lượng quân tình nguyện Việt Nam rút hết về nước theo thoả thuận giữa hai Đảng, hai Nhà nước và Quân đội nhân dân hai nước. Nhưng sau đó, tình hình nước bạn có nhiều diễn biến phức tạp, bạn tiếp tục đề nghị ta đưa lực lượng sang giúp bạn bảo vệ sân bay Pu-chen-tông và một số kho vũ khí. Thực hiện chủ trương trên, Tiểu đoàn tăng M42 (xe hệ 2 thu được của Mỹ) mang phiên hiệu 1089 được thành lập, để làm nhiệm vụ giúp bạn. Đơn vị gồm 14 sỹ quan, 75 hạ sỹ quan, 10 quân nhân chuyên nghiệp, được trang bị 15 xe tăng M42, 3 xe tải, 1 xe chở vật tư và trang bị kỹ thuật.
Trong thời gian này, mặc dù bị lực lượng cách mạng truy quét và trấn áp dữ dội, nhưng bọn phản động Khơ me đỏ vẫn chưa chịu từ bỏ ý đồ phá hoại cách mạng, giành lại quyền kiểm soát đất nước Campuchia. Chúng đã khôi phục lực lượng và xây dựng được một số căn cứ quân sự, bố trí dọc Biên giới Campuchia - Thái Lan và sâu trong nội địa. Từ các căn cứ trên, hàng ngày địch tăng cường quấy phá, gây tội ác với nhân dân, mặt khác chúng tiếp tục dùng các thủ đoạn ngoại giao, tâm lý hòng ép ta và bạn phải đi tới những thoả thuận có lợi cho chúng. Vì vậy, khi sang nhận nhiệm vụ, đoàn cán bộ của ta phải tuyệt đối giữ bí mật, toàn bộ quân trang, quân dụng của Tiểu đoàn tăng 1089 là trang bị của quân đội cách mạng Campuchia, để thuận tiện khi thực hiện nhiệm vụ.
Lúc này, đồng chí Đoàn Văn Môn mang cấp bậc thiếu tá, giữ chức Phó Tiểu đoàn trưởng về chính trị Tiểu đoàn 1089. Trong số những quân tư trang cá nhân do nước bạn trang bị, khi về nước đồng chí vẫn còn giữ được 1 chiếc mũ mềm, 1 bi đông đựng nước, 1 bộ quân hàm, 1 khăn cà ma và một con dao găm (hiện nay những hiện vật này đang được trưng bày tại Bảo tàng Lực lượng Tăng Thiết giáp).
Đồng chí xúc động nói:“Đây là những kỷ vật đã gắn bó với tôi trong những lần băng rừng, vượt đèo, lội suối đi báo cáo tình hình đơn vị với đoàn chuyên gia quân sự Bộ Quốc phòng của ta tại Campuchia. Có hai lần những kỷ vật đó đã để lại trong tôi những kỷ niệm sâu sắc về những năm tháng chiến đấu và làm nhiệm vụ tại nước bạn.”
Lần thứ nhất, vào tháng 6 năm 1990, theo yêu cầu của phía bạn, ta đã điều một đại đội xe tăng lên U-Đông thuộc tỉnh Công-pông-sư-phu làm nhiệm vụ bảo vệ kho vũ khí. Để chuẩn bị cho công tác chuyển quân được bí mật, an toàn, tôi đã cùng lực lượng trinh sát luồn sâu vào khu vực giáp ranh, cách sân bay Pu-chen-tông khoảng 100 km tìm hiểu địa hình và nắm tình hình hoạt động của bọn Pônpốt. Khi nhận nhiệm vụ này, chúng tôi đã được quán triệt: Bằng mọi cách phải giữ được bí mật, an toàn và nắm chắc được tình hình địch, không được chủ quan vì thời gian này địch hoạt động ráo riết, liều mạng, tàn ác và khát máu. Mặc dù đoạn đường chỉ khoảng 100 km nhưng vừa đi, vừa phải nắm tình hình, lại phải tuyệt đối giữ bí mật, tránh đụng độ với thám báo nên đoàn phải đi mất gần 1 tuần. Lúc này thời tiết nước bạn đang vào mùa khô, nguồn nước sạch rất khan hiếm. Trong khi đó tổ trinh sát chỉ mang theo 3 bi đông nước sạch để uống, chúng tôi không dám dùng nước suối vì sợ địch rải chất độc, không dám vào nhà dân xin nước vì sợ lộ bí mật. Những lúc khát quá phải chặt chuối rừng nhai cho đỡ khát. Chỉ với 3 bi đông nước cho gần 7 ngày hành quân, chúng tôi phải sử dụng thật dè sẻn và chia nhau đến giọt nước cuối cùng. Vượt qua tất cả những khó khăn ấy, chúng tôi đã đi đến điểm trinh sát đảm bảo bí mật, an toàn tuyệt đối. Chính chiếc bi đông này đã góp phần giúp tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Sau lần đó chừng hai tháng, những vật dụng trên lại cùng tôi đi làm một nhiệm vụ quan trọng khác là đón đoàn chuyên gia quân sự của ta do đồng chí Thượng tá Nguyễn Việt Hùng - Phó Hiệu trưởng - Trưởng phòng Huấn luyện - Trường Sỹ quan Chỉ huy Kỹ thuật Tăng làm Trưởng đoàn (trong chuyến công tác sang giúp bạn xây dựng chương trình huấn luyện chuyên ngành Tăng Thiết giáp tại Trường Lục quân của bạn) – về thăm và triển khai nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn. Chuyến đi ấy, tôi cùng 4 đồng chí chiến sĩ trong trung đội trinh sát của tiểu đoàn, được trang bị 4 khẩu súng AK với đủ cơ số đạn, riêng tôi còn mang theo 1 con dao găm để phòng thân và sử dụng trong sinh hoạt. Trên đường đi, nhóm chúng tôi đã nhiều lần gặp thú dữ và đụng độ với bọn địch, buộc phải nổ súng tiêu diệt. Nhiệm vụ chưa hoàn thành mà số đạn mang theo đã gần hết. Trong tình huống ấy, chúng tôi đã chuẩn bị tinh thần sẵn sàng dùng dao găm để chiến đấu trong trường hợp gặp địch và bằng mọi giá phải đảm bảo an toàn cho cấp trên. Và cuối cùng chúng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, đón Thủ trưởng Hùng về đơn vị an toàn, trước sự mừng vui của toàn thể cán bộ, chiến sĩ. Từ đó con dao găm luôn được tôi giữ bên mình và trở thành vật kỷ niệm thiêng liêng của đời quân ngũ, nó đã gợi lại trong tôi bao kỷ niệm của một thời sống, chiến đấu trên đất nước Chùa Tháp.
Với mong muốn được gửi gắm những hành trang, ký ức trong cuộc đời binh nghiệp, đồng chí Đoàn Văn Môn đã trao tặng những hiện vật trên cho Bảo tàng Lực lượng Tăng Thiết giáp lưu giữ làm tư liệu giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Truyền thống chính là chiếc cầu nối liền giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, những kỷ vật đó sẽ góp phần nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay hãy biết tựa mình vào truyền thống để vững bước tiến lên trên con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn.



