Kỷ vật khơi dậy hồi ức Điện Biên
Kỷ vật khơi dậy hồi ức Điện BiênNhiều năm qua, Đại tá Lê Khắc Phấn, nguyên cán bộ Viện Nghiên cứu Quân nhu (Cục Quân nhu, Tổng cục Hậu cần) luôn trân trọng, giữ gìn cẩn thận chiếc ba lô gắn bó với ông trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Để mỗi khi nhìn kỷ vật này, hồi ức về những ngày “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” lại được khơi dậy mạnh mẽ trong lòng người chiến sĩ Điện Biên.
Khơi dậy hồi ức Điện Biên Phủ Trong cơn mưa chiều rả rích, chúng tôi tìm đến nhà Đại tá Lê Khắc Phấn tại phường Ba Hàng, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Bên bộ sưu tập kỷ vật kháng chiến, ông chậm rãi giới thiệu và kể chúng tôi nghe từng câu chuyện gắn với từng kỷ vật. Khi cầm chiếc ba lô cũ lên, dòng hồi ức của ông về Chiến dịch Điện Biên Phủ lại ùa về. Theo lời kể của ông Lê Khắc Phấn, cuối năm 1953, khi đang hành quân lên Điện Biên, chiếc balo của ông không may bị lửa do bom địch rải xuống thiêu cháy. Ngay sau đó, ông được cấp một chiếc ba lô mới để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Đối với bộ đội chủ lực như ông, mỗi người đeo ba lô nặng gần 40kg; bên trong đựng quần áo, chăn, màn; bên ngoài treo túi gạo, túi muối, cuốc… Với hành trang đó, ông cùng đồng đội vượt qua bao mưa bom bão đạn, chiến đấu cho tới ngày chiến dịch toàn thắng.
Ba lô của ông Lê Khắc Phấn. Theo chỉ đạo cấp trên, để chuẩn bị cho đợt tấn công, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 174, Đại đoàn 316) của ông tiến hành đào hầm, đào giao thông hào, làm đường kéo pháo quanh Điện Biên Phủ. Khi di chuyển pháo vào vị trí chiến đấu, đường kéo pháo được họ luồn dưới các cánh rừng rậm, đoạn cây thưa thì gác giàn, phủ lá ngụy trang để tránh máy bay địch phát hiện. Công tác kéo pháo được thực hiện vào ban đêm, vượt qua hàng chục đèo cao, dốc đứng. Đến đầu tháng 3-1954, mọi công tác chuẩn bị đã hoàn thành theo kế hoạch. Đối với các chiến sĩ Trung đoàn 174, trận tấn công đồi A1 là trận khó khăn, kéo dài và thương vong nhất. Ngày 30-3, Trung đoàn 174 nổ súng tấn công vào cứ điểm phòng ngự của địch trên đồi A1. Cuộc chiến đang diễn ra gay go, ác liệt thì trời đổ mưa lớn, sấm đánh vang rền, nước chảy xối xả xuống hào làm khắp nơi bùn nhão. Ông kể: “Sau một đợt bắn, mỗi đội sẽ được nghỉ 30 phút để ăn cơm trong giao thông hào. Khi mở túi cơm chuẩn bị sẵn buộc bên hông quần, cơm ai cũng lấm lem bùn đất, phải gạt bớt bùn để ăn”. Vì điều kiện sinh hoạt, cơ động rất khó khăn, nên trận này bộ đội ta thương vong nhiều. Do vị trí đặc biệt quan trọng, Pháp đã xây dựng A1 trở thành ổ đề kháng mạnh nhất Điện Biên Phủ với hệ thống hầm ngầm bí mật vô cùng kiên cố, bố trí hỏa lực mạnh với các ổ súng máy. Để tiếp cận được hầm ngầm địch, bộ đội ta đã đào khoảng 50m hầm ngầm xuyên đồi trong gần hai tuần. Khi thực hiện nhiệm vụ này, các đồng chí, đồng đội của ông đã hy sinh rất nhiều. Ông Lê Khắc Phấn nghẹn lời nhớ lại: “Có những đêm cả trăm đồng chí đào hầm ngầm nhưng vì hỏa lực của địch bắn như mưa, tới sáng chỉ một phần ba lực lượng còn sống”. Gần 40 ngày đêm, quân ta và địch giành nhau từng tấc đất, mét hào. Trong khi ta quyết tâm chiếm toàn bộ quả đồi, tiêu diệt hoàn toàn thì địch liên tục phản kháng, ngoan cố giữ. Như chạm vào khoảnh khắc oai hùng nhất của cuộc đời, ánh mắt rực sáng, ông cất cao giọng tự hào: “Đêm ngày 6-5, gần 1000kg thuốc nổ quân ta đưa vào chân đồn địch được điểm hỏa. Vụ nổ đã thổi bay một phần lô cốt địch phía trên, gây chấn động toàn tuyến phòng thủ của địch trên đồi A1, mở đường cho đợt tổng công kích cuối cùng vào sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm để giành thắng lợi cuối cùng. Đến ngày 7-5 tướng De Castries bị bắt sống, Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, tôi cùng đồng đội ôm lấy nhau reo hò mừng thắng lợi”. Phát huy giá trị kỷ vật kháng chiến Để góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang ấy, có biết bao đồng đội của ông đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Ông Lê Khắc Phấn bộc bạch: “Đau đớn nhất là khi chứng kiến đồng chí, đồng đội của mình ngã xuống. Di vật của họ để lại lúc hy sinh cũng là chiếc ba lô. Tất cả những thứ trong đó tuy giản đơn nhưng có giá trị vô cùng, vì đã cùng người lính vượt qua bao mưa bom bão đạn, cho tới khi chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Với tôi, ba lô không chỉ là hành trang quan trọng, mà còn gắn liền với bao kỷ niệm của một thời máu lửa”. Chiếc ba lô ấy cứ thế theo ông trong suốt quá trình tham gia cách mạng và công tác để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Với những cống hiến không ngừng nghỉ, ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì, cùng nhiều huân chương và phần thưởng cao quý khác. Chiến tranh đã lùi xa nhưng kỷ vật và hồi ức Điện Biên vẫn còn nguyên giá trị trong lòng người cựu chiến binh và lan toả thông điệp đẹp tới những thế hệ sau. Theo lời kể của anh Lê Thành Đạt (cháu nội của ông Lê Khắc Phấn): “Chiếc ba lô được ông tôi cất gọn trong ngăn tủ. Thỉnh thoảng ông mang ra kiểm tra và vệ sinh sạch sẽ. Lần nào ông mang ra, tôi cũng được nghe ông kể về Chiến dịch Điện Biên Phủ. Vì vậy, tôi luôn trân trọng sự cống hiến, hy sinh to lớn của các thế hệ đi trước cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc”.
Ông Lê Khắc Phấn và cán bộ, nhân viên Bảo tàng Lực lượng Vũ trang Việt Bắc Quân khu 1 trong buổi hiến tặng hiện vật. Sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, ông Lê Khắc Phấn đã hiến tặng kỷ vật này cho Bảo tàng Lực lượng Vũ trang Việt Bắc Quân khu 1 làm hiện vật trưng bày, để tuyên truyền, giáo dục cho các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau tiếp cận, phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc. Đoàn Thảo/ Bảo tàng Quân khu 1
Ba lô của ông Lê Khắc Phấn. Theo chỉ đạo cấp trên, để chuẩn bị cho đợt tấn công, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 174, Đại đoàn 316) của ông tiến hành đào hầm, đào giao thông hào, làm đường kéo pháo quanh Điện Biên Phủ. Khi di chuyển pháo vào vị trí chiến đấu, đường kéo pháo được họ luồn dưới các cánh rừng rậm, đoạn cây thưa thì gác giàn, phủ lá ngụy trang để tránh máy bay địch phát hiện. Công tác kéo pháo được thực hiện vào ban đêm, vượt qua hàng chục đèo cao, dốc đứng. Đến đầu tháng 3-1954, mọi công tác chuẩn bị đã hoàn thành theo kế hoạch. Đối với các chiến sĩ Trung đoàn 174, trận tấn công đồi A1 là trận khó khăn, kéo dài và thương vong nhất. Ngày 30-3, Trung đoàn 174 nổ súng tấn công vào cứ điểm phòng ngự của địch trên đồi A1. Cuộc chiến đang diễn ra gay go, ác liệt thì trời đổ mưa lớn, sấm đánh vang rền, nước chảy xối xả xuống hào làm khắp nơi bùn nhão. Ông kể: “Sau một đợt bắn, mỗi đội sẽ được nghỉ 30 phút để ăn cơm trong giao thông hào. Khi mở túi cơm chuẩn bị sẵn buộc bên hông quần, cơm ai cũng lấm lem bùn đất, phải gạt bớt bùn để ăn”. Vì điều kiện sinh hoạt, cơ động rất khó khăn, nên trận này bộ đội ta thương vong nhiều. Do vị trí đặc biệt quan trọng, Pháp đã xây dựng A1 trở thành ổ đề kháng mạnh nhất Điện Biên Phủ với hệ thống hầm ngầm bí mật vô cùng kiên cố, bố trí hỏa lực mạnh với các ổ súng máy. Để tiếp cận được hầm ngầm địch, bộ đội ta đã đào khoảng 50m hầm ngầm xuyên đồi trong gần hai tuần. Khi thực hiện nhiệm vụ này, các đồng chí, đồng đội của ông đã hy sinh rất nhiều. Ông Lê Khắc Phấn nghẹn lời nhớ lại: “Có những đêm cả trăm đồng chí đào hầm ngầm nhưng vì hỏa lực của địch bắn như mưa, tới sáng chỉ một phần ba lực lượng còn sống”. Gần 40 ngày đêm, quân ta và địch giành nhau từng tấc đất, mét hào. Trong khi ta quyết tâm chiếm toàn bộ quả đồi, tiêu diệt hoàn toàn thì địch liên tục phản kháng, ngoan cố giữ. Như chạm vào khoảnh khắc oai hùng nhất của cuộc đời, ánh mắt rực sáng, ông cất cao giọng tự hào: “Đêm ngày 6-5, gần 1000kg thuốc nổ quân ta đưa vào chân đồn địch được điểm hỏa. Vụ nổ đã thổi bay một phần lô cốt địch phía trên, gây chấn động toàn tuyến phòng thủ của địch trên đồi A1, mở đường cho đợt tổng công kích cuối cùng vào sở chỉ huy Tập đoàn cứ điểm để giành thắng lợi cuối cùng. Đến ngày 7-5 tướng De Castries bị bắt sống, Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, tôi cùng đồng đội ôm lấy nhau reo hò mừng thắng lợi”. Phát huy giá trị kỷ vật kháng chiến Để góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang ấy, có biết bao đồng đội của ông đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Ông Lê Khắc Phấn bộc bạch: “Đau đớn nhất là khi chứng kiến đồng chí, đồng đội của mình ngã xuống. Di vật của họ để lại lúc hy sinh cũng là chiếc ba lô. Tất cả những thứ trong đó tuy giản đơn nhưng có giá trị vô cùng, vì đã cùng người lính vượt qua bao mưa bom bão đạn, cho tới khi chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Với tôi, ba lô không chỉ là hành trang quan trọng, mà còn gắn liền với bao kỷ niệm của một thời máu lửa”. Chiếc ba lô ấy cứ thế theo ông trong suốt quá trình tham gia cách mạng và công tác để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Với những cống hiến không ngừng nghỉ, ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì, cùng nhiều huân chương và phần thưởng cao quý khác. Chiến tranh đã lùi xa nhưng kỷ vật và hồi ức Điện Biên vẫn còn nguyên giá trị trong lòng người cựu chiến binh và lan toả thông điệp đẹp tới những thế hệ sau. Theo lời kể của anh Lê Thành Đạt (cháu nội của ông Lê Khắc Phấn): “Chiếc ba lô được ông tôi cất gọn trong ngăn tủ. Thỉnh thoảng ông mang ra kiểm tra và vệ sinh sạch sẽ. Lần nào ông mang ra, tôi cũng được nghe ông kể về Chiến dịch Điện Biên Phủ. Vì vậy, tôi luôn trân trọng sự cống hiến, hy sinh to lớn của các thế hệ đi trước cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc”.
Ông Lê Khắc Phấn và cán bộ, nhân viên Bảo tàng Lực lượng Vũ trang Việt Bắc Quân khu 1 trong buổi hiến tặng hiện vật. Sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, ông Lê Khắc Phấn đã hiến tặng kỷ vật này cho Bảo tàng Lực lượng Vũ trang Việt Bắc Quân khu 1 làm hiện vật trưng bày, để tuyên truyền, giáo dục cho các thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay và mai sau tiếp cận, phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc. Đoàn Thảo/ Bảo tàng Quân khu 1


