Kỷ vật trong chiếc ba lô sờn và giấc mơ bảo vệ bình yên 1A2-VCVB
Nhà tôi có một chiếc ba lô con cóc cất rất kỹ dưới đáy tủ kính. Đó là "gia tài" lớn nhất của ông nội tôi sau những năm tháng thanh xuân xẻ dọc Trường Sơn.
Ngày bé, tôi hay lén mở chiếc ba lô ấy ra xem. Trái với trí tưởng tượng của một đứa trẻ về những chiến lợi phẩm hoành tráng, trong đó chỉ có một bộ quân phục đã sờn rách vai, một chiếc ca nhôm móp méo và cuốn sổ tay ố vàng chép vội những vần thơ. Ông tôi hiếm khi kể về những chiến công hay những lần đạn bom ác liệt. Nhưng mỗi lần nhắc về "thời hoa lửa", ánh mắt ông lại nhìn xa xăm, giọng chùng xuống khi nhớ về những người đồng đội đã mãi mãi nằm lại ở độ tuổi mười tám, đôi mươi. Ông hay vuốt đầu tôi bảo: "Hòa bình mà gia đình mình, đất nước mình đang có, được đổi bằng máu của bao người tuổi đời cũng chỉ trạc cháu bây giờ thôi".
Những câu chuyện mộc mạc nhưng đầy ám ảnh ấy cứ lớn dần lên cùng tôi, nhen nhóm trong tôi niềm say mê đặc biệt với những trang sử dân tộc. Từ lời kể của ông, tôi bắt đầu say sưa tìm tòi về các triều đại hào hùng của đất nước, đọc ngấu nghiến về nghệ thuật quân sự tài tình của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, hay những bước hành quân thần tốc của Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ. Tôi nhận ra rằng, dẫu ở thời đại nào, từ cội nguồn xa xưa cho đến những chặng đường kháng chiến cứu nước, dòng máu yêu nước và khí phách kiên cường vẫn luôn chảy rần rật trong huyết quản người Việt. Tinh thần của những bậc tiền nhân kiệt xuất ấy dường như đã trao truyền, hun đúc nên thế hệ ông nội tôi, và giờ đây, nó tiếp tục định hình ước mơ lớn nhất đời tôi.
Tôi không sinh ra trong thời chiến để cầm súng ra trận như ông, nhưng tôi khao khát được tiếp bước con đường bảo vệ đất nước. Mỗi ngày cắm cúi ôn luyện từng hằng đẳng thức Toán học, từng công thức Vật lý hay học thuộc các cấu trúc Anh văn, tôi đều tự nhủ mình phải nỗ lực bằng mọi giá để thi đỗ vào khối trường Công an. Tôi muốn được khoác lên mình bộ quân phục, muốn trở thành một phần của lực lượng giữ gìn sự bình yên cho Tổ quốc – sự bình yên mà ông tôi và cả một thế hệ đã đánh đổi bằng cả thanh xuân.
Hưởng ứng đề án "Câu chuyện thời hoa lửa" của Đoàn, tôi nhận ra mình không cần phải tìm kiếm tư liệu ở đâu xa xôi. "Hoa lửa" cháy ngay trong chính ngôi nhà của tôi, trong những vết sẹo của ông, và trong cả cách tôi thường răn dạy đứa em trai đang tuổi ẩm ương bướng bỉnh của mình, rằng chúng tôi đang được sống một cuộc đời quá đỗi may mắn và tự do.
Thế hệ những người lính năm xưa giờ đã da mồi tóc bạc. Nhưng ngọn lửa từ những năm tháng gian khổ mà vĩ đại ấy chưa bao giờ tắt. Với thế hệ trẻ chúng tôi, lòng biết ơn sâu sắc nhất không chỉ nằm ở những nén nhang thắp lên đài tưởng niệm, mà là ở hành động. Là sống, học tập và cống hiến hết mình, để một ngày nào đó, tôi có thể tự hào đứng trước ông, đội chiếc mũ kê pi và báo cáo: "Cháu đã sẵn sàng tiếp bước ông, bảo vệ quê hương mình".



