LÁ CHUỐI RỪNG MỞ LỐI QUA THÁC DỮ
Trước khi những chuyến hàng có thể xuôi Nậm Na phục vụ chiến trường Điện Biên Phủ, người lính công binh Phan Tư phải cùng đồng đội tìm cách vượt qua thác dữ. Từ kinh nghiệm gói bánh ở quê đến lần lặn xuống đặt bộc phá giữa dòng nước xiết, câu chuyện mở ra một chiến trường hậu cần đầy hiểm nguy. Trong ký ức người sống sót, con đường được khai thông luôn gắn với những đồng đội đã nằm lại giữa núi sông.
Lá chuối rừng đã đi vào câu chuyện mở đường cho Điện Biên Phủ bằng một công dụng ít ai nghĩ tới: bọc những khối bộc phá mang xuống dòng Nậm Na. Người nghĩ ra cách ấy là Phan Tư, chàng trai quê Thọ Thành, Yên Thành, Nghệ An. Giữa núi rừng thiếu thốn, kinh nghiệm gói bánh của người từng đi ở từ nhỏ đã giúp ông cùng đồng đội tìm lời giải cho một nhiệm vụ mới. Trước khi đá vỡ, một trở ngại đã được vượt qua bằng trí óc.
Đầu năm 1954, công tác chuẩn bị cho chiến trường Điện Biên đặt lên hậu cần một sức ép lớn. Lương thực, vũ khí phải đến được nơi bộ đội đang tập trung. Trên hướng từ biên giới về Lai Châu, Nậm Na mở ra khả năng vận chuyển bằng đường thủy, nhưng những ghềnh đá và thác dữ chặn dòng khiến thuyền bè khó đi qua. Dòng sông cần được khai thông trước khi trở thành tuyến tiếp tế.
Tháng 2 năm ấy, Phan Tư nhận nhiệm vụ phá thác. Ông đã qua những trận phá bom, bảo đảm giao thông, nhưng công việc dưới dòng nước đặt ra thử thách khác. Phải hiểu chỗ nào cần phá, phải khảo sát trong nước lạnh, phải đưa được thuốc nổ đến đúng vị trí. Mỗi yêu cầu đều gắn với hiểm nguy. Dòng chảy không đứng yên để người công binh làm việc; vực sâu và đá ngầm có thể cắt đứt đường trở lên của người đang lặn.
Khó khăn xuất hiện ngay từ vật liệu bảo vệ thuốc nổ. Đơn vị thiếu những thứ dùng để chống nước. Trong câu chuyện được báo chí ghi lại, Phan Tư liên hệ việc gói bộc phá với cách gói bánh quen thuộc. Lá chuối, vật liệu có ngay trong rừng, được đem thử và cho kết quả. Một kinh nghiệm lao động bình thường đã được chuyển sang công việc quân sự. Những gì người lính mang từ quê nhà lên chiến trường vì thế có cả sự khéo tay và vốn hiểu biết đời thường.
Giải quyết được việc bọc giữ khô vẫn chưa đủ. Khối đá phải được phá ở vị trí cần thiết để mở luồng, và muốn biết vị trí ấy, người công binh phải xuống nước. Phan Tư nhiều lần lặn khảo sát. Cái rét, nước xiết và địa hình hiểm trở là những trở ngại có thật trong nhiệm vụ của đơn vị. Công việc đòi hỏi sức chịu đựng, đồng thời buộc người thực hiện quan sát, thử nghiệm và rút kinh nghiệm qua từng lần tiếp cận thác.
Một cuộc thử sức quyết liệt diễn ra ở thác Hang. Theo ký sự được Báo Nhân Dân công bố, Phan Tư nhận phần việc đưa bộc phá xuống nơi cần phá. Đồng đội hỗ trợ từ phía trên; ông lặn xuống trong dòng nước. Sau khi hoàn thành, ông phải thoát khỏi khu vực nguy hiểm trước tiếng nổ. Mỗi bước của công việc đều phụ thuộc vào sự phối hợp. Ở giữa thác dữ, lòng quả cảm của một người cần đến bàn tay và sự chuẩn bị của những người khác.
Tiếng nổ dội lên, nước tung trắng xóa. Trong phút đầu, đồng đội không nhìn thấy Phan Tư. Bài ký sự ghi lại rằng mọi người đã tưởng ông hy sinh, rồi phát hiện ông trôi về phía hạ lưu, ngất đi vì uống nhiều nước. Sự sống trở lại với đơn vị qua việc tìm thấy người vừa xuống thác. Thành công có một cái giá rất gần: người mở đường đã ở sát ranh giới không thể trở về, ngay trước mắt những người đang chờ mình.
Phan Tư tiếp tục tham gia phá những thác khác, đúc rút kinh nghiệm để cả đơn vị vận dụng. Báo Nghệ An ghi nhận trung đội do ông chỉ huy phá được hơn ba mươi thác, thông luồng cho thuyền chở vũ khí, lương thực phục vụ chiến dịch. Sau mỗi chướng ngại được dỡ bỏ là khả năng đưa hàng đi tiếp. Thành quả của người công binh được nối dài bằng hoạt động của những người vận chuyển trên dòng sông vừa khai thông.
Nhưng ký ức Nậm Na còn có những người nằm lại. Trong cuộc trò chuyện được Báo Sức khỏe và Đời sống ghi lại, Phan Tư nhắc đến thanh niên xung phong hy sinh khi khảo sát, phá thác và gặp sạt lở. Nhiều người mất tích giữa núi sông, việc tìm kiếm, xác định tên tuổi gặp khó khăn. Người sống sót mang theo cả nỗi đau ấy. Nhìn lại chiến công mở luồng, ông vẫn nhớ những người đã cùng làm việc mà không được trở về quê hương.
Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Phan Tư được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nhiều năm sau, khi phóng viên đến nhà tại Thọ Thành, con trai ông kể rằng những lần cha về thăm nhà thường ngắn ngủi, ông chủ yếu dặn con chịu khó học. Người từng thiếu cơ hội học hành đã đi qua chiến tranh bằng sức lao động và sáng kiến của mình. Trong lời dặn ở gia đình, việc học tiếp tục được ông gửi gắm cho con.
Từ căn nhà quê ấy, câu chuyện có thể trở lại với những lá chuối bên Nậm Na. Chúng gợi một phần hành trang của người lính: kinh nghiệm từ đời sống nghèo khó, sự kiên trì tìm cách làm và trách nhiệm với việc chung. Một vật bình thường đã góp vào công việc đưa lương thực đến chiến trường. Khi nhớ đến Phan Tư, còn có thể nhớ bàn tay người gói bánh năm nào, đôi bàn tay đã mang vốn sống quê nhà xuống một dòng thác dữ.



