Cựu Thanh niên xung phong

LÁ CỜ KHÔNG KHUẤT GIỮA TRƯỜNG SƠN

Năm 1965, khi cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc ngày càng ác liệt, thầy giáo trẻ Trần Võ Tánh được điều sang công tác tại Ban Chỉ đạo Thanh niên xung phong Thanh Hóa. Dù người con đầu mới 8 tháng tuổi, ông vẫn gác lại việc riêng để nhận nhiệm vụ đưa TNXP vào chi viện chiến trường miền Nam. Ngày 18/6/1966, trước giờ lên đường, ông nhận một lá cờ rộng 1,4 mét do Tỉnh ủy Thanh Hóa trao tặng. Trên lá cờ là dòng chữ: “Phát huy truyền thống Thanh Hóa anh hùng”. Lá cờ ấy đã theo đoàn TNXP vượt hàng trăm cây số vào Quảng Bình, đi qua những trọng điểm ác liệt của Trường Sơn. Bom đạn làm lá cờ thủng chi chít, nhưng nó vẫn được giương cao, trở thành biểu tượng tinh thần để những người thanh niên xung phong tiếp tục mở đường, giữ đường và đưa những đoàn xe tiến về phía trước.

Thanh Hóa18/08/2026Xã Tùng Bá (Đoàn xã Tùng Bá)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
LÁ CỜ KHÔNG KHUẤT GIỮA TRƯỜNG SƠN

Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ngày càng ác liệt, miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam. Những tuyến đường giao thông trở thành mạch máu nối hậu phương với tiền tuyến. Ở Thanh Hóa, hàng nghìn thanh niên đã sẵn sàng lên đường tham gia lực lượng Thanh niên xung phong.

Trong số những người được giao nhiệm vụ tổ chức lực lượng có một người thầy giáo trẻ tên là Trần Võ Tánh, quê ở vùng đất Lam Kinh. Khi ấy, ông đang làm nghề dạy học nhưng được điều sang Ban Chỉ đạo Thanh niên xung phong Thanh Hóa để tham gia nhiệm vụ chi viện cho chiến trường.

Đó không phải là một quyết định dễ dàng. Người con đầu của ông lúc ấy mới chỉ 8 tháng tuổi. Một gia đình trẻ, một đứa con thơ và cuộc sống đang yên ổn ở quê nhà có thể khiến bất cứ ai phải đắn đo. Nhưng trước yêu cầu của đất nước, ông đã gác lại việc riêng, nhận nhiệm vụ dẫn đoàn thanh niên xung phong lên đường vào Nam.

Ngày 18/6/1966, trước khi đoàn xuất phát, Trần Võ Tánh được Tỉnh ủy Thanh Hóa trao một lá cờ rộng khoảng 1,4 mét. Trên lá cờ thêu dòng chữ “Phát huy truyền thống Thanh Hóa anh hùng”.

Đối với một đoàn quân đang chuẩn bị bước vào nơi bom đạn, lá cờ ấy không chỉ là một món quà động viên. Nó giống như một lời gửi gắm của quê hương, một lời nhắc nhở rằng phía sau những người ra trận luôn có đồng bào đang dõi theo và đặt niềm tin vào họ.

Ông nhận lá cờ, rồi cùng đoàn lên đường.

Đoàn TNXP Thanh Hóa bắt đầu hành quân về phía Nam. Con đường ngày càng xa quê. Những cánh đồng, làng mạc quen thuộc dần lùi lại phía sau. Trước mắt họ là núi rừng Trường Sơn và một cuộc chiến mà không ai biết mình sẽ phải trải qua những gì.

Gần một tháng sau, đoàn đến huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Từ đây, nhiệm vụ thực sự bắt đầu.

Những người thanh niên xung phong phải bảo đảm cho mạch máu giao thông luôn thông suốt trong mọi tình huống. Họ bốc vác hàng hóa, vận chuyển thương binh, phối hợp với bộ đội công binh mở đường và sửa đường. Có những đoạn đường dài hơn 100 km phải được mở trong thời gian rất ngắn để phục vụ yêu cầu chi viện chiến trường.

Trường Sơn lúc ấy không giống một con đường bình thường.

Đó là một chiến trường.

Bom đạn có thể trút xuống bất cứ lúc nào. Những trọng điểm như bến phà Xuân Sơn, dốc đá Đồng Tiền, Suối Ba Khe, dốc Ba Thang trở thành những nơi thử thách ý chí của những người mở đường.

Mỗi ngày, đoàn TNXP phải đối mặt với những trận bom dữ dội. Đường vừa sửa xong có thể lại bị bom đánh phá. Cầu vừa được khắc phục có thể lại bị đánh sập. Những hố bom xuất hiện liên tiếp trên mặt đường.

Nhưng những người thanh niên xung phong không được phép dừng lại.

Họ lại lao ra đường.

Người xúc đất.

Người san đá.

Người vận chuyển vật liệu.

Người tháo bom.

Người tìm kiếm và vận chuyển thương binh.

Cứ như vậy, con đường được nối lại bằng sức người.

Và giữa những cung đường khốc liệt ấy, lá cờ Thanh Hóa vẫn tung bay.

Bom đạn làm lá cờ thủng nhiều chỗ. Những mảnh bom găm vào vải. Có thể có lúc nó rách, có lúc bạc màu vì mưa nắng, nhưng những người TNXP vẫn giữ lá cờ bên mình.

Sau này nhớ lại những ngày tháng ấy, Trần Võ Tánh kể rằng lực lượng TNXP đi đến đâu, lá cờ lại được giương lên đến đó. Với những người trẻ xa quê, lá cờ giống như hình ảnh của quê hương cùng đi với họ.

Họ có thể không nhìn thấy gia đình.

Không biết cha mẹ ở quê đang làm gì.

Không biết con thơ của mình hôm nay có khỏe không.

Nhưng nhìn lá cờ, họ biết mình không đơn độc.

Trên những cung đường Trường Sơn, các khẩu hiệu như “Địch đánh ngày thì ta làm đêm”, “Dù tim ngừng đập chứ không để đường tắc” trở thành lời động viên tinh thần. Những câu khẩu hiệu ấy không phải để trang trí. Nó được thực hiện bằng chính mồ hôi, sức lực và sự hy sinh của những người trẻ.

Có những đêm máy bay đánh phá dữ dội, mặt đất rung chuyển, tiếng bom nối tiếp nhau. Khi tiếng bom vừa dứt, những người TNXP lại từ nơi trú ẩn bước ra.

Họ nhìn mặt đường.

Nếu đường bị tắc, phải sửa.

Nếu cầu bị hỏng, phải khắc phục.

Nếu bom chưa nổ, phải tháo.

Nếu có thương binh, phải đưa về nơi an toàn.

Không ai có thể chờ đến ngày mai.

Bởi phía sau họ là những đoàn xe đang chờ để tiếp tục đi về phía chiến trường.

Đặc biệt, khoảng giữa tháng 4/1968, những trận đánh phá trở nên dữ dội. Theo lời kể của ông Tánh, có ngày hàng chục trận bom B52 được trút xuống khu vực, nhiều người hy sinh và bị thương. Trong hoàn cảnh ấy, lá cờ vẫn trở thành nguồn cổ vũ để những người còn sống tiếp tục bám đường.

Chiến tranh càng khốc liệt, tình đồng đội càng trở nên sâu sắc.

Những người hôm qua còn cùng nhau làm đường, hôm nay có thể đã nằm lại. Có người ra đi không kịp nói lời tạm biệt gia đình. Có người mãi mãi không được trở về quê hương.

Nhưng những người sống vẫn phải tiếp tục nhiệm vụ.

Bởi nếu dừng lại, tuyến đường sẽ bị chia cắt.

Và vì thế, họ lại đứng lên.

Lại cầm cuốc, cầm xẻng.

Lại mở đường.

Lại giữ đường.

Lại nhìn lá cờ quê hương tung bay giữa núi rừng.

Năm 1971, Trần Võ Tánh tiếp tục dẫn khoảng 3.000 TNXP Thanh Hóa vào chiến trường, thực hiện nhiệm vụ bảo đảm giao thông trên tuyến đường 15A từ cầu Tào lên Khe Nước Lạnh, cùng bộ đội và các lực lượng khác mở đường, thông tuyến và tháo bom.

Nhiều năm sau, khi chiến tranh đã lùi xa, lá cờ năm xưa vẫn được ông giữ gìn cẩn thận. Chiếc lá cờ từng hứng chịu bom đạn, từng đi qua những trọng điểm của Trường Sơn, trở thành một kỷ vật thiêng liêng của cả một thế hệ.

image.png

Sau này, ông trao lại lá cờ cho Hội Cựu Thanh niên xung phong để lưu giữ và trưng bày trong phòng truyền thống. Một vật tưởng như rất bình thường nhưng trên đó chứa đựng ký ức của cả một thời tuổi trẻ.

Không chỉ nhớ về những ngày tháng Trường Sơn, Trần Võ Tánh còn nhớ mãi hai lần ông có vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng 3/1966.

Ngày 24/3/1966, ông được tỉnh cử làm trưởng đoàn gồm 7 người ra Hà Nội dự Đại hội “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”. Trong ngày thứ ba của đại hội, ông bất ngờ được gặp Bác Hồ. Đối với một người thanh niên lần đầu ra Hà Nội và lần đầu được nhìn thấy Bác, cảm xúc lúc ấy theo lời kể của ông là niềm vui và hạnh phúc khó diễn tả.

Chỉ một ngày sau, ngày 25/3/1966, ông lại có dịp gặp Bác tại Hội trường Ba Đình trong buổi lễ kỷ niệm thành lập Đoàn lần thứ 35.

Trong cuộc gặp, Bác căn dặn các đoàn viên, thanh niên phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, góp sức đánh thắng giặc ngoại xâm. Bác còn hỏi mọi người có nhớ 5 điều Bác Hồ dạy hay không.

Trần Võ Tánh khi ấy mạnh dạn giơ tay nhận mình nhớ. Nhưng khi đứng trước Bác để đọc, vì quá xúc động và hồi hộp, ông chỉ nhớ được hơn một câu rồi quên mất phần còn lại.

Đó là một kỷ niệm mà ông mang theo suốt cuộc đời.

Chiến tranh rồi cũng kết thúc. Những người thanh niên năm xưa trở về với cuộc sống đời thường. Nhưng ký ức về Trường Sơn không bao giờ biến mất.

Với Trần Võ Tánh, điều ông nhớ không chỉ là những trận bom, những cung đường hay những ngày tháng gian khổ. Ông còn nhớ những người đồng đội đã hy sinh, đặc biệt là những nữ thanh niên xung phong đã dành cả tuổi xuân cho đất nước và nhiều người trở về trong cảnh cô đơn, không nơi nương tựa. Đó là nỗi trăn trở mà ông mang theo cả trong thời bình.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, lá cờ năm xưa không còn tung bay trên đỉnh Trường Sơn. Những con đường chiến tranh cũng đã thay đổi. Những nơi từng là trọng điểm bom đạn nay đã có cuộc sống bình yên.

Nhưng câu chuyện về lá cờ vẫn còn nguyên giá trị.

Bởi lá cờ ấy không chỉ là một kỷ vật.

Nó là biểu tượng của quê hương.

Là lời hứa của những người ra đi.

Là niềm tin của hậu phương gửi tới tiền tuyến.

Và cũng là chứng nhân của một thế hệ đã sống những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ giữa bom đạn.

Ngày hôm nay, chúng ta được sống trong hòa bình, được đi trên những con đường rộng mở, được học tập, lao động và xây dựng quê hương. Có thể chúng ta không còn hình dung hết sự khốc liệt của những ngày Trường Sơn năm ấy, nhưng qua câu chuyện của người cựu TNXP Trần Võ Tánh, chúng ta có thể hiểu rằng mỗi con đường bình yên hôm nay đều được đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, nước mắt và sự hy sinh.

image.png

Lá cờ có thể đã cũ.

Những vết bom có thể đã nằm im trong quá khứ.

Nhưng tinh thần của những người từng giữ lá cờ ấy vẫn còn nguyên.

Đó là tinh thần dám đi, dám làm, dám hy sinh vì Tổ quốc.

Đó cũng chính là thông điệp mà “thời hoa lửa” gửi lại cho thế hệ trẻ hôm nay: hãy biết trân trọng hòa bình, biết ơn những người đã hy sinh và sống có trách nhiệm với quê hương, đất nước.

Bởi có những lá cờ không chỉ được làm bằng vải. Có những lá cờ được nhuộm bằng ký ức, mồ hôi và tuổi trẻ của cả một thế hệ.

Lá cờ “Phát huy truyền thống Thanh Hóa anh hùng” là một lá cờ như thế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn