Bài viết

“Lá Thư Bất Tử Của 3 Chiến Sỹ Giải Phóng Quân”

Câu chuyện về người con Quảng Ngãi Nguyễn Chí và hai người đồng đội

Quảng Ninh23/08/2026Nguyễn Thị Huyền Trang (Đoàn trường Đại học Phạm Văn Đồng)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có những lá thư được viết để gửi đến một người, có những lá thư được viết để gửi đến một gia đình. Nhưng cũng có những lá thư được viết trong những giờ phút cuối cùng của một đời người, không biết rồi sẽ đến tay ai, chỉ mong một ngày nào đó có người tìm thấy và hiểu rằng: đã từng có những con người sống, chiến đấu và hy sinh như thế.

Em biết đến một lá thư như vậy trong câu chuyện về ba người lính Quân giải phóng miền Nam: Lê Hoàng Vũ quê Thái Bình, Nguyễn Chí quê Quảng Ngãi và Trần Viết Dũng quê Sài Gòn. Điều khiến em dừng lại lâu hơn ở câu chuyện ấy chính là cái tên Nguyễn Chí – quê Quảng Ngãi. Giữa hàng triệu người đã đi qua chiến tranh, một cái tên quê hương bỗng khiến câu chuyện trở nên gần gũi lạ thường.

Em tự hỏi: Người con Quảng Ngãi ấy đã sống những ngày cuối cùng của mình như thế nào? Anh đã nghĩ gì khi biết mình không còn cơ hội trở về? Và điều gì đã khiến ba người lính, trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời, vẫn cố gắng viết một bức thư gửi lại cho những người đang sống? Câu trả lời nằm trong một cánh rừng miền Đông Nam Bộ và trong một bức thư đã vượt qua gần hai thập kỷ để trở về với con người.

 Câu chuyện bắt đầu từ một sự kiện diễn ra vào tháng 2 năm 1966, sau trận đánh Bông Trang – Nhà Đỏ ở khu vực Thủ Dầu Một. Trong chiến tranh, một chiến thắng không có nghĩa là mọi người đều có thể lập tức trở về. Sau trận tập kích, lực lượng Quân giải phóng phải rút về căn cứ. Một tiểu đội gồm 11 chiến sĩ thuộc Trung đội “Ký Con”, Trung đoàn Bình Giã, được giao nhiệm vụ đặc biệt: nghi binh, đánh lạc hướng địch, tạo dấu vết như thể cả một trung đoàn đang hành quân về hậu cứ, qua đó giúp lực lượng chính rút lui an toàn. Mười một người lính lên đường. Họ mang theo những chiếc bật lửa, một vài phương tiện thông tin và mỗi người một khẩu AK, những thứ mang theo không nhiều nhưng trên vai họ là một nhiệm vụ rất lớn.

Sau khi rời khỏi khu vực chiến đấu, 11 người lính bắt đầu hành quân qua rừng. Họ phải vượt qua những ngày tháng khắc nghiệt của chiến trường miền Đông Nam Bộ. Địch truy lùng, máy bay liên tục hoạt động, những đợt bom rải xuống rừng khiến việc di chuyển trở nên vô cùng khó khăn nhưng nhiệm vụ nghi binh vẫn phải được thực hiện. Họ phải làm cho đối phương tin rằng một lực lượng lớn đang di chuyển qua khu vực, mỗi dấu vết để lại đều có ý nghĩa, mỗi bước chân đều có thể giúp đánh lạc hướng đối phương nhưng cũng chính những dấu vết ấy khiến họ trở thành mục tiêu bị truy đuổi. Rừng sâu vốn đã khắc nghiệt, chiến tranh lại càng khắc nghiệt hơn. Sau nhiều ngày băng rừng, vượt suối và chịu đựng những đợt bom dữ dội, tám người trong tiểu đội lần lượt hy sinh chỉ còn lại ba người. Lê Hoàng Vũ, Nguyễn Chí, Trần Viết Dũng ba con người ba quê hương ba cuộc đời. Và một con đường phía trước mà không ai biết sẽ còn dài bao lâu.

Ba người tiếp tục đi nhưng cơ thể họ đã gần như cạn kiệt, phương tiện thông tin bị hư hỏng họ không còn cách liên lạc với đơn vị. Những vết thương khiến việc di chuyển ngày càng khó khăn, cái đói kéo dài cơn khát hành hạ.

Trong bức thư để lại sau này, họ đã kể về những ngày tháng ấy bằng những lời khiến người đọc hôm nay khó có thể hình dung hết sự khắc nghiệt: đói đến kiệt sức, khát đến khô cháy cả ruột gan.

Em đã thử nghĩ về chữ “khát”. Một người bình thường khát có thể tìm một chai nước nhưng giữa một cánh rừng chiến tranh, khi sức lực đã cạn kiệt và không biết phía trước còn có nước hay không, chữ “khát” có lẽ mang một ý nghĩa hoàn toàn khác.

Cuối cùng, ba người hiểu rằng họ không thể đi tiếp. Không còn sức, không còn phương tiện liên lạc, những người đồng đội đã hy sinh, phía trước là một cánh rừng và họ hiểu rằng có lẽ đây sẽ là nơi cuối cùng mình nhìn thấy. Điều kỳ lạ là trong khoảnh khắc ấy, họ không hoảng loạn, họ quyết định dừng lại họ chọn một khu rừng và một thân cây để làm nơi nghỉ cuối cùng. Ba chiếc võng được mắc chung vào một thân cây, ba người lính nằm cạnh nhau. Bên cạnh họ là những khẩu súng đã theo họ suốt chặng đường chiến đấu và những đôi dép cao su đã cùng họ vượt qua rừng núi nhưng họ chưa muốn ra đi mà không để lại điều gì. Họ muốn kể lại câu chuyện của mình họ muốn đồng đội biết rằng nhiệm vụ đã được hoàn thành, họ muốn những người đến sau biết tám người đồng đội đã hy sinh như thế nào và họ muốn gửi lời về với gia đình. Vì thế, ba người bắt đầu viết.

Sau khi chọn cho mình cái chết, 3 chiến sĩ người yếu viết trước, người còn sức dành viết sau; các anh dồn chút sức lực còn lại viết về cuộc chiến đấu trong mấy ngày qua, về sự hy sinh của đồng đội; những tình cảm thân thương da diết đối với bố, mẹ, vợ con, người thân, quê hương… và bày tỏ niềm tin vào ngày cuộc kháng chiến chống Mỹ toàn thắng.

Lần lượt, Lê Hoàng Vũ, Nguyễn Chí vĩnh viễn ra đi. Người để lại những dòng lưu bút cuối cùng là Trần Viết Dũng. Xin được dẫn những dòng như rút từ gan ruột của anh:

…Nhưng rồi các bạn giục kết thúc lá thư đi thôi. Thời gian không chờ chúng tôi nữa. Chúng tôi đã cảm thấy sắp đến giờ phải từ giã cõi đời này rồi. Trước khi ra đi, thư phải được bảo quản cẩn thận để tránh thời gian mưa nắng phũ phàng. Thư phải về tới tay những người đang sống…

Nếu lá thư này được về với đồng đội chúng tôi trong Trung đoàn BG (Bình Giã) Quân giải phóng miền Nam hay một đơn vị bạn nào đó qua đây, xin chuyển lên giùm cấp trên.

Tiểu đội Giải phóng quân chúng tôi trong Trung đội “Ký Con” đã hoàn thành nhiệm vụ. Chúng tôi mong được ghi nhận rằng chúng tôi đã từng sống, chiến đấu và đã chết trong một mùa xuân giữa đất trời như trăm ngàn cái chết của người Việt Nam chân chính cho Tổ quốc và dân tộc sống còn.

Còn như chúng tôi được phát hiện muộn hơn sau 5 năm - 10 năm - tự do quý giá, thì xin cho chúng tôi - gởi đến những người đang sống, sống đúng ý nghĩa của nó, trong một thời đại vinh quang.

Bức thư được viết bằng những giây phút cuối cùng, bức thư được bọc kỹ trong ni-lông và cột lại ở đầu võng. Ba người lính đang chờ đợi những giờ phút cuối cùng và một tờ giấy, bàn tay từng cầm súng giờ cầm bút không phải để viết một bản báo cáo chiến thắng, không phải để kể công. Mà để viết về những người đã hy sinh, viết về gia đình, quê hương và những điều còn chưa kịp nói.

Trong những dòng chữ ấy, họ tự giới thiệu mình:

Lê Hoàng Vũ, quê Thái Bình.
Nguyễn Chí, quê Quảng Ngãi.
Trần Viết Dũng, quê Sài Gòn.

Ba cái tên ấy đứng cạnh nhau, ba miền quê đứng cạnh nhau. Trong giờ phút cuối cùng, họ vẫn là những người đồng đội.

Em đặc biệt dừng lại ở cái tên Nguyễn Chí, Quảng Ngãi hôm nay đã khác rất nhiều, có trường học có những con đường mới có những thành phố, thị trấn, làng quê đang từng ngày đổi thay nhưng cách đây nhiều thập kỷ, một người con Quảng Ngãi đã rời quê hương để chiến đấu ở một vùng đất cách quê nhà rất xa.

Anh ra đi khi đất nước còn chiến tranh, có thể khi ấy anh không biết mình sẽ hy sinh ở đâu có thể anh cũng từng nghĩ đến ngày chiến tranh kết thúc, ngày được trở về. Nhưng cuối cùng, quê hương chỉ còn có thể đón anh trở về bằng một câu chuyện. Tôi nghĩ đến gia đình anh. Không biết trong những năm tháng ấy, người thân của Nguyễn Chí đã chờ đợi anh như thế nào.

Bức thư nằm im trong khu rừng cho đến mùa xuân năm 1984. Một đoàn cán bộ Nông trường “Giải phóng” thuộc tỉnh Sông Bé trong một chuyến khảo sát để quy hoạch cơ sở sản xuất đã đi ngược thượng nguồn sông Đồng Nai. Tại một vùng đồi rừng nguyên sinh, họ bắt gặp một cảnh tượng khiến tất cả xúc động và bàng hoàng.

Ba chiếc võng, ba bộ hài cốt, ba khẩu AK đã han rỉ, ba đôi dép cao su và một bức thư được bọc kỹ trong ni-lông. Mười tám năm đã trôi qua kể từ mùa xuân năm 1966 nhưng những dòng chữ của ba người lính vẫn còn đó.

Em nghĩ khoảnh khắc người ta mở bức thư ấy hẳn phải rất đặc biệt. Bởi người viết đã không còn nhưng tiếng nói của họ vẫn còn, những nét chữ run rẩy của những người đã kiệt sức vẫn kể lại được câu chuyện của một tiểu đội. Họ kể về nhiệm vụ, kể về những người đã hy sinh, kể về những ngày đói khát, kể về gia đình và kể về niềm tin vào ngày đất nước toàn thắng.

Bức thư vì thế không chỉ là một kỷ vật chiến tranh, nó là một cây cầu, một đầu cầu ở năm 1966, một đầu cầu ở năm 1984. Và hôm nay, cây cầu ấy tiếp tục nối đến thế hệ chúng ta.

 Khi đọc câu chuyện về ba người lính dưới ba chiếc võng, tôi chợt thấy mình may mắn biết bao. Bởi những điều bình thường ấy chỉ có thể tồn tại khi đất nước có hòa bình và hòa bình không phải món quà tự nhiên mà có. Nó được đánh đổi bằng những năm tháng tuổi trẻ của rất nhiều người. Trong đó có Nguyễn Chí, Một người con Quảng Ngãi đã đi rất xa quê hương và không bao giờ trở lại bằng đôi chân của mình.

Chúng ta vẫn còn những nghĩa trang liệt sĩ, vẫn còn những gia đình chờ đợi, vẫn còn những câu chuyện được kể lại và vẫn còn những thế hệ trẻ muốn biết những người đi trước đã sống như thế nào. Và có thể kể lại câu chuyện của các anh để thế hệ sau vẫn biết rằng đã từng có một thế hệ như thế.

Sống không chỉ đơn giản là tồn tại. Mà hãy sống có trách nhiệm, có lý tưởng, có tình yêu với quê hương, đất nước và với những người bên cạnh mình.

 Bởi phía sau cuộc sống bình yên mà chúng ta đang có hôm nay là những con người đã từng chiến đấu quên mình để bảo vệ nó. Để những người đã nằm xuống không bị lãng quên, để thế hệ trẻ biết mình đang được sống trong một nền hòa bình quý giá như thế nào và để lời nhắn gửi từ mùa xuân năm ấy vẫn tiếp tục được truyền đi.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn