Bài viết

“Lá thư chưa kịp gửi của người lính Trường Sơn”

Con đường Trường Sơn năm 1968 luôn ẩn dưới màu xanh thẫm của rừng già, nhưng những người đã từng đi qua đều biết: dưới tán lá bình yên ấy là bao hiểm nguy chực chờ. Bom rơi, sốt rét, biệt kích… tất cả như thử lòng ý chí của những đoàn quân ngày đêm gùi hàng. Trong số ấy có anh Hòa – chiến sĩ vận tải của Binh trạm 42. Anh nhỏ con, nước da xanh vì sốt rét rừng, nhưng chiếc gùi trên lưng lúc nào cũng nặng hơn người khác cả chục ký. Anh hay nói đùa: “Gùi nặng cho nhanh hết chiến tranh mà về cưới vợ

Quảng Trị02/12/2025Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Con đường Trường Sơn năm 1968 luôn ẩn dưới màu xanh thẫm của rừng già, nhưng những người đã từng đi qua đều biết: dưới tán lá bình yên ấy là bao hiểm nguy chực chờ. Bom rơi, sốt rét, biệt kích… tất cả như thử lòng ý chí của những đoàn quân ngày đêm gùi hàng.

Trong số ấy có anh Hòa – chiến sĩ vận tải của Binh trạm 42. Anh nhỏ con, nước da xanh vì sốt rét rừng, nhưng chiếc gùi trên lưng lúc nào cũng nặng hơn người khác cả chục ký. Anh hay nói đùa:
“Gùi nặng cho nhanh hết chiến tranh mà về cưới vợ.”

Ấy vậy mà người con gái anh thương – chị Thắm, cán bộ y tế hậu phương – chưa bao giờ nhận được một lá thư trọn vẹn. Thư nào anh cũng viết dở rồi bị bom làm cháy, bị mưa làm nhòe, hoặc bị chính anh xé bỏ vì “sợ viết chưa đủ hay cho Thắm”.

Tối hôm ấy, đội của anh nhận nhiệm vụ đưa hàng đến chân đèo Khe Cạn, nơi pháo địch thường câu tới. Trăng non, đường rừng tối như mực. Anh Hòa đi cuối đội hình, một tay giữ gùi, một tay giữ bọc giấy nhỏ – lá thư mà anh khao khát được gửi đi lần đầu tiên.

Khoảng nửa đêm, tiếng trực thăng Mỹ ù ù trên đầu, pháo sáng rơi xuống trắng cả cánh rừng. Đội vận tải chạy tản ra, giấu hàng, tìm vị trí trú ẩn. Anh Hòa vừa chạy vừa ôm lấy bọc thư, miệng chỉ kịp nói:
“Giữ lấy hàng! Đừng để lộ đường!”

Một quả pháo rơi gần, đất đá hắt lên, ánh sáng trắng lóa. Khi khói tan, người ta thấy anh Hòa nằm úp trên một hố đất, lưng vẫn che trọn chiếc gùi.

Chỉ có lá thư nhỏ bên ngực anh bị nhuộm đỏ, nhưng còn nguyên.

Trong thư, chỉ viết mấy dòng đơn giản:

“Thắm à, khi nào anh đưa được hết gạo với thuốc ra chiến trường, khi nào đường Trường Sơn không còn tiếng máy bay, anh sẽ về cưới em.
Còn nếu không kịp… em đừng buồn. Vì anh thương em, nên anh phải đi.”

Đêm ấy, đội vận tải tiếp tục lên đường, mang theo cả lá thư chưa kịp gửi – như một lời hứa của người lính gửi lại Trường Sơn.

Sau giải phóng, chị Thắm ra nghĩa trang Trường Sơn tìm đến phần mộ anh. Người đồng đội cũ đưa lá thư – giờ đã sờn mép – cho chị. Chị đọc trong lặng yên, rồi đặt lá thư dưới chân mộ, khẽ nói:

“Anh Hòa… em vẫn chờ anh, như anh đã giữ lời với Tổ quốc.”

Người ta bảo mỗi buổi chiều, ở khu nghĩa trang ấy, có một làn gió rất nhẹ thổi qua hàng cây xà nu. Đó là khi Trường Sơn nhắc lại chuyện một người lính trẻ… và lá thư chưa kịp gửi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn