Lá thư chưa kịp gửi giữa mùa xuân Mậu Thân
"Có những thứ mang theo suốt cuộc đời không phải là huân chương, mà là một lá thư đã nhàu theo năm tháng và lời hẹn với người đồng đội không bao giờ thực hiện được..."
Đó là ký ức của cựu chiến binh Nguyễn Sỹ Đương, quê Thanh Hóa, sinh năm 1941, nhập ngũ tháng 2 năm 1967. Sau thời gian huấn luyện, ông được biên chế vào Trung đoàn 27, Sư đoàn 324B, làm nhiệm vụ trên chiến trường Trị - Thiên, tham gia các hoạt động chuẩn bị và chiến đấu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.
Cuối năm 1967, không khí ở chiến trường khác hẳn những tháng trước.
Các đơn vị liên tục hành quân, ban ngày trú quân trong rừng, ban đêm men theo những con đường mòn để cơ động về vị trí tập kết. Không ai nói ra, nhưng tất cả đều hiểu một trận đánh lớn đang đến rất gần.
Những ngày cuối tháng Chạp, trong khi nhiều gia đình ngoài Bắc chuẩn bị đón Tết thì những người lính như ông Đương vẫn lặng lẽ đào công sự giữa rừng.
Tết của họ chỉ là một nắm cơm vắt, một ít muối vừng và vài câu chúc nhau thật nhanh.
Có người còn cười: “Năm nay chắc ăn Tết ở... trận địa”.
Ai cũng cười, nhưng nụ cười ấy không giấu được sự hồi hộp trước những ngày sắp tới.
Đêm cuối tháng Giêng năm 1968, đơn vị nhận lệnh xuất phát. Mọi người hành quân trong im lặng, khẩu súng được quấn vải để tránh va chạm, bi đông nước được buộc chặt, không ai được hút thuốc hay bật đèn pin. Con đường xuyên rừng chỉ đủ một người đi. Có những đoạn phải bò qua bãi cỏ tranh vì phía trước là đồn bốt địch. Ông Đương đi gần cuối đội hình, đi trước ông là người bạn thân tên Lâm, quê Nghệ An, hai người cùng nhập ngũ, cùng chia nhau từng điếu thuốc, từng bi đông nước suốt gần một năm. Lâm nhỏ hơn ông vài tuổi nên lúc nào cũng gọi ông là "anh Đương". Khoảng gần sáng, đơn vị dừng chân bên một khe suối cạn. Lâm lấy trong ba lô ra một chiếc khăn tay đã cũ, bên trong là vài chiếc kẹo lạc được mẹ gửi từ quê vào trước ngày lên đường, cậu bẻ đôi đưa cho ông Đương một nửa.
“Anh ăn đi... coi như ăn Tết”.
Ông cười.
Chiếc kẹo đã mềm vì hơi ẩm.Hai người ngồi tựa lưng vào gốc cây, nhai chậm từng miếng, đó là cái Tết giản dị nhất trong cuộc đời người lính.
Rạng sáng hôm sau, tiếng súng bắt đầu vang lên từ phía thành phố, pháo binh nổ dồn dập, từng cột khói bốc cao. Đơn vị của ông nhận nhiệm vụ đánh chiếm một vị trí phòng ngự ven đô, tạo điều kiện cho lực lượng phía sau tiến lên. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt hơn dự kiến, địch nhanh chóng điều quân phản kích, máy bay quần thảo trên đầu, pháo bắn liên hồi xuống các tuyến đường.
Có lúc cả đơn vị phải nằm ép sát xuống những bờ ruộng ngập nước hàng giờ liền. Đến chiều, trong một đợt cơ động sang vị trí mới, một loạt đạn bất ngờ quét ngang đội hình.
Ông Đương nghe tiếng Lâm gọi rất khẽ: “Anh...”
Quay lại, Lâm đã ngã xuống.
Ông và hai đồng đội bò đến kéo bạn vào mép một bờ đất, mảnh đạn đã găm sâu vào ngực. Lâm cố nắm lấy tay ông, rồi lấy từ túi áo ra một phong thư đã gấp cẩn thận.
“Nếu... anh về... gửi giúp em... cho mẹ...”
Ông siết chặt bàn tay người bạn, chỉ kịp gật đầu.
Một lúc sau, bàn tay ấy buông lỏng, không còn cử động.
Trận đánh vẫn tiếp diễn.
Ông không có thời gian để khóc, ông cất lá thư vào túi áo ngực rồi tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu.
Nhiều ngày sau, đơn vị được lệnh rút khỏi khu vực để bảo toàn lực lượng.
Chiếc áo đã sờn vai, đôi dép cao su cũng gần đứt quai. Nhưng lá thư vẫn còn nguyên trong túi áo.
Cuối năm ấy, trong một đợt ra Bắc điều dưỡng ngắn ngày, việc đầu tiên ông Đương làm là tìm về quê của Lâm. Mẹ của người bạn đã đứng tuổi, mái tóc bạc gần hết. Khi nhận lá thư còn nguyên nếp gấp, bà ôm chặt nó vào ngực mà không mở ngay.
Một lúc lâu sau, bà chỉ hỏi:
“Trước lúc đi... nó có đau nhiều không con?”
Ông Đương nghẹn lời.
Ông chỉ khẽ đáp:
“Lâm rất bình tĩnh, bác ạ. Trước lúc nhắm mắt, điều cậu ấy nghĩ đến đầu tiên là mẹ.”
Người mẹ lặng lẽ quay mặt đi.
Nước mắt rơi xuống lá thư đã úa màu.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua. Mỗi dịp Tết đến, ông Nguyễn Sỹ Đương lại nhớ về đêm hành quân năm ấy, nhớ nửa chiếc kẹo lạc giữa rừng, nhớ người bạn đã gửi gắm lá thư cuối cùng.
Và nhớ mùa xuân Mậu Thân 1968 – mùa xuân mà biết bao người lính đã gác lại tuổi trẻ để bước vào trận chiến, mang theo niềm tin về một ngày đất nước hòa bình.
Ông thường nói với con cháu:
"Chiến tranh có thể lùi xa, nhưng tình đồng đội thì không bao giờ cũ. Điều tôi mang theo suốt cuộc đời không phải là khẩu súng, mà là lời hứa đã giữ trọn với người bạn năm xưa."
Đó là ký ức không thể phai mờ của người lính Nguyễn Sỹ Đương – một người lính bình dị đã đi qua mùa xuân Mậu Thân 1968 bằng tất cả lòng dũng cảm, trách nhiệm và nghĩa tình đồng đội.



