Anh hùng Lực lượng vũ trang

LÁ THƯ CHƯA KỊP TRỞ VỀ TRƯỚC TRẬN HIM LAM

Câu chuyện về Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Phan Đình Giót.

Hà Tĩnh21/08/2026Đoàn xã Đức An (Đức An)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 3 năm 1954.

Trong những chiến hào đang ngày một siết chặt quanh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, một người lính quê Hà Tĩnh gọi một chiến sĩ trẻ trong đoàn văn nghệ lại và hỏi:

“Hết chiến trường này chú có về quê không, cho mình gửi lá thư?”

Người được hỏi là Phạm Ngọc Cảnh, khi ấy mới 21 tuổi, thuộc đoàn văn nghệ xung kích của Đại đoàn 312.

Còn người muốn gửi thư là Phan Đình Giót.

Chỉ ít ngày nữa, Đại đoàn 312 sẽ bước vào trận đánh Him Lam, trận mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Và không ai trong hai người biết rằng đó sẽ là lá thư cuối cùng của Phan Đình Giót gửi về gia đình.

Người lính không biết viết thư

Phan Đình Giót sinh năm 1922, quê ở vùng Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh.

Ông xuất thân trong một gia đình rất nghèo. Cha mất trong nạn đói, từ năm 13 tuổi, Phan Đình Giót đã phải đi ở, làm thuê để kiếm sống.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông tham gia lực lượng tự vệ. Năm 1950, ông xung phong vào bộ đội chủ lực.

Từ đó, người thanh niên từng phải đi ở từ nhỏ lần lượt tham gia các chiến dịch Trung Du, Hòa Bình, Tây Bắc rồi Điện Biên Phủ.

Đồng đội nhớ đến Phan Đình Giót không chỉ bởi sự gan dạ trong chiến đấu.

Ông còn là người thường nhận phần khó về mình, quan tâm đến đồng đội, giúp đỡ anh em trong đơn vị. Bởi vậy, dù không phải là người nhiều tuổi nhất, ông vẫn được nhiều chiến sĩ thân mật gọi là “anh cả”.

Đầu năm 1954, Phan Đình Giót cùng đơn vị hành quân hàng trăm kilômét qua núi rừng Tây Bắc để đến Điện Biên.

Ở nơi ấy, ông gặp người đồng hương trẻ tuổi Phạm Ngọc Cảnh.

“Chú giúp mình nhé!”

Đoàn văn nghệ của Đại đoàn 312 khi đó thường đi xuống các đơn vị biểu diễn, động viên bộ đội trước giờ chiến đấu.

Khoảng ba ngày trước trận Him Lam, Phạm Ngọc Cảnh gặp đơn vị Phan Đình Giót đang đào chiến hào.

Biết người chiến sĩ trẻ cũng quê Hà Tĩnh, Phan Đình Giót hỏi:

“Hết chiến trường này chú có về quê không cho mình gửi lá thư?”

Phạm Ngọc Cảnh trả lời rằng chưa biết khi nào có thể trở về, nhưng vì thường xuyên đi nhiều nơi, gặp dân công và cán bộ từ Hà Tĩnh ra nên nếu có thư, ông có thể tìm người chuyển giúp.

Hai người chia tay.

Hai ngày sau, Phạm Ngọc Cảnh quay trở lại.

Phan Đình Giót lúc ấy đang đan vòng ngụy trang chuẩn bị cho trận đánh.

Người chiến sĩ trẻ hỏi:

“Anh viết thư chưa?”

Phan Đình Giót trả lời rằng mình không có giấy, bút.

Phạm Ngọc Cảnh lấy giấy và bút đưa cho ông.

Nhưng chờ mãi vẫn không thấy Phan Đình Giót viết.

Cuối cùng, ông cười và nói:

“Khổ! Mình mà viết được thì còn đợi chú làm gì. Chú giúp mình nhé!”

Vậy là giữa chiến hào Điện Biên, trước một trận đánh lớn, một người lính 32 tuổi đọc từng câu để người đồng đội trẻ viết hộ lá thư gửi về cho vợ.

Phạm Ngọc Cảnh sau này chỉ nhớ đó là “mộc mạc mấy dòng”.

Không ai ghi lại đầy đủ nội dung lá thư ấy.

Có lẽ cũng chẳng cần biết nó dài bao nhiêu.

Bởi đối với một người lính đã xa nhà nhiều năm, giữa lúc trận đánh đang đến rất gần, vài dòng hỏi thăm gửi về quê cũng đã chứa đựng cả một khoảng đời mà chiến tranh buộc phải để lại phía sau.

Ngày hôm sau

Ngày hôm sau, 13/3/1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn.

Mục tiêu đầu tiên là cứ điểm Him Lam.

Phan Đình Giót khi ấy là Tiểu đội phó thuộc Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312.

Chiều hôm đó, các chiến sĩ xung kích bắt đầu mở cửa qua hệ thống hàng rào của quân Pháp.

Đây là một trong những nhiệm vụ nguy hiểm nhất của trận đánh.

Người mang bộc phá phải bò hoặc chạy đến rất gần hàng rào, đặt khối thuốc nổ rồi kích nổ để tạo từng khoảng trống cho đội hình phía sau tiến vào.

Hỏa lực từ các lô cốt bắn ra dữ dội.

Các chiến sĩ Đại đội 58 lần lượt đánh bộc phá mở cửa.

Phan Đình Giót lao lên.

Khi đánh quả bộc phá tiếp theo, ông bị thương ở đùi.

Nhưng ông không quay lại.

Ông tiếp tục tiến lên đánh thêm những quả bộc phá, phá nốt đoạn hàng rào còn lại để đồng đội vượt qua.

Bị thương vẫn tiếp tục tiến lên

Cửa mở được phá.

Bộ đội bắt đầu xung phong vào bên trong cứ điểm.

Phan Đình Giót tiếp tục tiến lên đánh các lô cốt.

Ông lại bị thương.

Máu chảy nhiều.

Nhưng trận đánh chưa kết thúc.

Một hỏa điểm từ lô cốt phía trước bất ngờ hoạt động mạnh, quét hỏa lực vào đội hình xung kích của quân ta.

Các chiến sĩ phía trước bị chặn lại.

Nhiều người tìm cách tiếp cận hỏa điểm nhưng bị thương hoặc hy sinh.

Phan Đình Giót lúc ấy cũng đã mang nhiều vết thương trên người.

Ông vẫn bò về phía trước.

Khoảng cách giữa ông và lô cốt ngày càng ngắn.

Người chiến sĩ nâng tiểu liên, bắn vào lỗ châu mai.

Hết một băng đạn.

Ông thay băng khác.

Nhưng khi đồng đội vừa định xung phong, súng từ lô cốt lại tiếp tục bắn ra.

Hỏa điểm vẫn chưa bị tiêu diệt.

Phía sau Phan Đình Giót là những người đồng đội đang bị ghìm lại.

Phía trước chỉ còn một lỗ châu mai đang nhả đạn.

Và người lính quê Hà Tĩnh đã đưa ra quyết định cuối cùng của cuộc đời mình.

Một người lao về phía họng súng

Phan Đình Giót dồn sức đứng dậy.

Ông tiếp tục bắn về phía lỗ châu mai.

Rồi giữa tiếng súng, đồng đội nghe tiếng ông hô:

“Quyết hy sinh vì Đảng, vì dân!”

Sau đó, Phan Đình Giót lao người về phía trước.

Hai tay bám vào phần công sự.

Ông xoay người—

áp cả thân mình vào lỗ châu mai.

Hỏa điểm đang bắn dữ dội bỗng im tiếng.

Khoảnh khắc ấy tạo cho những chiến sĩ phía sau cơ hội xông lên.

Đội hình xung kích tràn qua.

Cứ điểm Him Lam bị tiêu diệt trong trận mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Phan Đình Giót hy sinh trong đêm 13/3/1954.

Người chiến sĩ vừa nhờ đồng đội viết hộ lá thư về cho vợ ngày hôm trước đã không còn cơ hội trở về.

Còn lá thư thì sao?

Giữa chiến tranh, có những điều phải mất rất lâu mới hoàn thành được hành trình của nó.

Phạm Ngọc Cảnh vẫn giữ lá thư.

Ông không tìm được người thích hợp để gửi về ngay lúc ấy.

Chiến dịch Điện Biên Phủ tiếp tục.

Rồi ngày 7/5/1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn bị tiêu diệt.

Người chiến sĩ đã nhờ viết bức thư không còn nữa.

Nhưng bức thư vẫn nằm trong ba lô của người đồng đội.

Nó theo Phạm Ngọc Cảnh qua những tháng ngày sau chiến thắng.

Mãi đến cuối năm 1955, khi có dịp trở về Hà Tĩnh, ông mới tìm đến quê Phan Đình Giót.

Và trao lại lá thư cho người vợ của liệt sĩ.

Hơn một năm rưỡi sau khi người viết thư đã nằm lại ở Điện Biên, những dòng chữ ấy cuối cùng mới trở về được quê nhà.

Lá thư từ một người không trở về

Chúng ta biết Phan Đình Giót qua một hình ảnh đã trở thành biểu tượng:

Người chiến sĩ lấy thân mình lấp lỗ châu mai.

Nhưng phía sau hình ảnh của một Anh hùng còn có một con người rất bình thường.

Một người từng đi ở từ năm 13 tuổi.

Một người nông dân trở thành người lính.

Một người chồng đang ở cách quê nhà hàng trăm kilômét.

Một người không biết viết thư nên phải cười ngượng nghịu nhờ đồng đội:

“Chú giúp mình nhé!”

Và chỉ một ngày sau đó, người lính ấy bước vào trận đánh cuối cùng.

Có lẽ chính những chi tiết nhỏ bé như vậy khiến lịch sử trở nên gần gũi hơn.

Bởi những người đã làm nên Điện Biên Phủ không sinh ra đã là những pho tượng.

Họ từng là những người con.

Những người chồng.

Những người cha.

Những người nông dân.

Những thanh niên bình thường với nỗi nhớ quê hương, với gia đình đang chờ đợi và với những lá thư chưa kịp gửi.

Nhưng khi đất nước cần, những con người bình thường ấy đã làm được những điều phi thường.

Phan Đình Giót đã không thể trở về với người vợ đang chờ ở Hà Tĩnh.

Lá thư của ông phải mất hơn một năm mới về đến quê nhà.

Nhưng từ chiều 13/3/1954, hành động của người lính ấy đã đi xa hơn bất kỳ lá thư nào.

Nó đi vào lịch sử.

Đi vào những trang sách.

Đi cùng nhiều thế hệ người Việt Nam khi nhắc về Điện Biên Phủ.

Và hơn bảy mươi năm sau, giữa rất nhiều chiến công lớn lao của một chiến dịch “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, vẫn có một câu chuyện nhỏ khiến người ta xúc động:

Trước ngày hy sinh, người anh hùng lấp lỗ châu mai chỉ là một người lính đang ngồi trong chiến hào, nhờ đồng đội viết hộ vài dòng gửi về cho vợ.

Lá thư ấy đã về đến quê nhà.

Còn người viết thư thì mãi mãi ở lại Him Lam.


Nguồn tư liệu: Báo Quân đội nhân dân; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn