Bài viết

Lá thư cuối cùng

Gia Lai17/05/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lá thư cuối cùngVới người chiến sĩ, chiến tranh là những ngày dài xa cách, những ngày dài thương nhớ khôn nguôi với gia đình, người thân. Cũng như bạn bè cùng trang lứa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, người chiến sĩ Trần Đô đã phải tạm xa vợ và các con thơ để đánh đuổi giặc ngoại xâm. Vợ anh là Vũ Thúy Nga, khi ấy đang công tác tại Viện Quân y tại thị xã Bắc Ninh, tỉnh Hà Bắc (nay là thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh).

Trần Đô, sinh ngày 21/4/1927 tại xã Quảng Thuận, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, anh đã tình nguyện tham gia hoạt động cách mạng tại địa phương, làm giao liên sau đó tham gia lực lượng dân quân tại quê nhà. Ngày 20/3/1949, anh được kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 6/1951, anh nhập ngũ, là Phó ban Binh vận Tỉnh đội Huế, Mặt trận Bình-Trị-Thiên. Trong những năm tháng đằng đẵng bị chia cách bởi chiến tranh khốc liệt Đồng chí luôn giữ thói quen đều đặn viết thư về cho người vợ trẻ và hai con gái. Đã có gần 100 bức thư đi về giữa đạn bom, những cánh thư với người chiến sĩ ấy chính là sợi dây nối dài tình yêu với vợ con. Với họ bom đạn thời gian không bao giờ và không thể nào tàn phá nổi những tin yêu trong tâm hồn. Trong bức thư gửi cho vợ ngày 4/5/1964, là những dòng đầy ắp yêu thương, bộc lộ nỗi lòng sâu thẳm có khi nồng nàn, có khi khắc khoải nhớ thương của người chiến sĩ ngoài mặt trận dành cho người vợ trẻ và các con thơ: “Biết viết gì đây cho em khỏi buồn, khỏi nhớ. Ngày gặp em tất nhiên sẽ đến song còn lâu dài. Người ta tưởng trong chiến tranh khói lửa của mùi thuốc súng sẽ quên đi tất cả những gì đầm ấm nhưng không phải thế em ạ. Hình ảnh em và các con luôn trong tâm trí của anh”. Bức thư còn là những dòng tâm sự với vợ về cuộc sống chiến đấu, những trải nghiệm của người chiến sĩ về những nỗi đau chung của dân tộc dưới gót giày kẻ thù xâm lược trên những vùng đất đã đi qua, nhằm tiếp thêm sức mạnh ý chí quyết tâm cho người vợ trẻ vượt qua mọi khó khăn thử thách: “Nhưng anh thiết tưởng nếu em và các con của anh nhìn qua bên kia giới tuyến thì có biết bao phụ nữ và trẻ em không thấy bóng chồng hay cha, chịu biết bao cảnh nhục hình, khắc nghiệt. Thực sự, hy sinh của chúng mình chỉ bằng 1/10 trong sự hy sinh của dân tộc phải không em?”.
Bức thư gửi vợ ngày 4/5/1964 của Liệt sĩ Trần Đô. Ảnh Phương Thảo. Mặc dù, chiến đấu nơi chiến trường gian khổ, khó khăn, hy sinh anh vẫn luôn động viên vợ yên tâm học tập công tác, chăm lo gia đình, nuôi dưỡng các con. Qua thư thể hiện lý tưởng cách mạng cao đẹp của người chiến sĩ trước vận mệnh Tổ quốc: “Anh thương yêu em vô cùng. Trong đời anh chỉ có em là duy nhất. Và con đường yêu thương em đúng đắn là phải chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Vì hạnh phúc của gia đình nằm trong hạnh phúc chung của cả dân tộc”. Trong đó có lá thư đầy xúc động, thiêng liêng dự cảm về sự mất mát, hy sinh được anh viết ngày 31/1/1968 vào đúng đêm giao thừa, trước thềm diễn ra Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Đây cũng là lá thư cuối cùng của anh viết gửi cho người vợ thân yêu của mình. Những dòng thư thể hiện cảm xúc của người chiến sĩ cách mạng trước giờ bước vào trận đánh lịch sử, niềm tin vào sự thắng lợi của cách mạng, và mường tượng về ngày độc lập, hòa bình sẽ được trở về quê hương, quây quân bên gia đình, thầy mợ và vợ con: “Em thân yêu! Em và con đang làm gì, chỉ còn nửa tiếng nữa là giao thừa cho hết một năm…. Trước giờ xuất phát, giờ thiêng liêng và vinh quang của dân tộc, biết tâm sự gì với em đây – ngày hạnh phúc, vinh quang nhất, ngày mong ước nhất của sự đoàn tụ gia đình sẽ đến và đến rất gần.” Mỗi người chiến sĩ khi ra trận đều xác định sự hy sinh có thể ập đến bất cứ lúc nào, với họ sống là phải anh dũng, hy sinh vẻ vang để bảo vệ Tổ quốc. Trước trận đánh lớn của dân tộc, anh bộc bạch về sự ác liệt nơi chiến trường, đồng thời làm công tác tư tưởng với vợ: “Nhưng anh muốn cùng em tâm sự trong những giờ phút trong những giây phút thiêng liêng này để xác định cho anh tư tưởng của người chiến sĩ cộng sản sẵn sàng xả thân cho Đảng, cho sự nghiệp cách mạng và cho cả hạnh phúc của em và các con nữa. Nếu có hy sinh thì cũng đã làm xong mọi việc đối với Tổ quốc, đối với dân tộc, nếu có phải vĩnh biệt – thương nhớ em và con vô cùng”. Là người chiến sĩ họ không tiếc máu xương của mình mà chỉ lo lắng cho người thân nơi hậu phương: “…anh mong cho em và các con trong cuộc sống ngày càng đầy đủ hạnh phúc”. Những dòng thư được viết dưới mưa bom, bão đạn mang bao tâm tư, nguyện vọng và lời hẹn đoàn viên về ngày đất nước hoàn toàn thống nhất: “Đang viết thì bom vừa nổ bên cạnh, vừa phải xuống hầm, bao giờ lại viết tiếp cho em đây. Hẹn ngày đón em!”.
Lá thư cuối cùng của Liệt sĩ Trần Đô gửi về cho vợ, được viết rạng sáng ngày 31/1/1968. Ảnh Phương Thảo. Nhưng chiến tranh ác liệt ngoài sức tưởng tượng, Trần Đô đã không có ngày trở về, ngày 15/2/1968, anh bị trúng pháo kích và hy sinh để lại giấc mơ ngày về vẫn mãi dang dở. Trước khi ra trận, người chiến sĩ ấy đã nghĩ đến cái chết, nhưng dẫu hy sinh thì máu của các anh sẽ tô thắm lá cờ Tổ quốc, làm xanh mãi bầu trời đất nước. Nửa thế kỉ qua, bà Vũ Thúy Nga vẫn một lòng sắt son, thủy chung thờ chồng. Với bà những cánh thư của chồng là động lực tinh thần to lớn giúp bà vượt mọi khó khăn trong cuộc sống để nuôi dưỡng hai con gái (Trần Thị Thanh Huyền và Trần Thị Lan Phương) khôn lớn, trưởng thành. Mấy chục năm qua, bà Nga đã hình thành thói quen đọc thư của chồng, mỗi lần nhớ bà lại đem ra đọc. Ngày bà nhận được tin chồng hy sinh, bà Nga đã mở đọc lại bức thư cuối cùng của chồng và viết thêm một dòng phía dưới bức thư như muốn giải tỏa nỗi đau không gì bù đắp: “Thế là hết ngày ấy anh đi mãi, còn mong chi ngày trở lại Đô ơi!”. Điều đau đáu nhất đối với gia đình bà Nga là đến nay phần mộ của Liệt sĩ Trần Đô vẫn chưa được tìm thấy. Những cánh thư là tiếng nói trong trẻo vút lên trên nền trầm đục của chiến tranh, đã trở thành là cầu nối tinh thần quý giá giữa hậu phương và người chiến sĩ, thể hiện một phần cuộc sống tâm tư, tình cảm của người chiến sĩ ngoài mặt trận – những người ra đi giữ trọn lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, họ luôn nặng lòng với hậu phương. Với mong muốn kỷ vật của liệt sĩ Liệt sĩ Trần Đô được bảo quản lâu dài, phát huy giá trị và góp phần vào việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, ngày 10 tháng 12 năm 2018, bà Trần Thị Lan Phương (con gái Liệt sĩ Trần Đô) đã quyết định tặng lại bức thư cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam làm hiện vật./.Cao Phương Thảo

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn