Lá thư cuối trước giờ xuất quân
Tháng Ba năm 1968. Làng quê nhỏ ven sông vẫn chìm trong màn sương sớm. Tiếng gà gáy vọng từ cuối xóm, tiếng chày giã gạo đều đều vang lên từ nhà bên cạnh. Trong căn nhà lợp rạ đơn sơ, chàng thanh niên Nguyễn Văn Lâm, vừa tròn hai mươi tuổi, ngồi bên ngọn đèn dầu leo lét. Trên chiếc bàn gỗ cũ kỹ là một tờ giấy học trò đã ngả màu vàng cùng cây bút máy được người thầy giáo cũ tặng trước ngày tốt nghiệp.
Đêm ấy, cả nhà đều đã ngủ. Chỉ còn mình Nguyễn Thành Lâm (Sinh năm 1949, nhập ngũ năm 1963, hiện nay là CCB thôn Tân An, xã Hùng An) lặng lẽ viết.
Anh biết sáng mai sẽ lên đường nhập ngũ. Cuộc chia tay sẽ rất ngắn. Anh sợ nếu đứng trước mẹ, mình sẽ không kìm được nước mắt. Vì thế, anh chọn gửi tất cả những điều muốn nói vào một lá thư.
Anh nắn nót từng dòng chữ:
*"Mẹ kính yêu!
Khi mẹ đọc lá thư này thì con đã theo đơn vị rồi. Xin mẹ đừng buồn và cũng đừng khóc. Được khoác trên mình bộ quân phục là niềm tự hào lớn nhất của con. Nếu ai cũng sợ gian khổ, sợ hy sinh thì lấy ai bảo vệ quê hương, đất nước?
Con đi rồi, mẹ nhớ giữ gìn sức khỏe. Mùa tới, nếu con chưa về, mẹ nhờ bác Hai cày giúp mấy sào ruộng. Con xin lỗi vì chưa kịp báo hiếu mẹ.
Con hứa sẽ trở về..."*
Viết đến đó, bàn tay anh khựng lại.
Anh nhìn ra khoảng sân nơi cây cau vẫn đứng lặng trong gió. Tiếng côn trùng rả rích giữa đêm khuya khiến lòng người càng thêm nặng trĩu.
Anh hiểu chiến tranh không có lời hứa nào là chắc chắn.
Rất nhiều người trong xã ra đi nhưng chưa một lần trở lại.
Anh cầm bút viết tiếp:
"Nếu chẳng may con không về, mẹ cũng đừng quá đau lòng. Con tin rồi đất nước sẽ có ngày thống nhất. Khi ấy, mẹ hãy coi con vẫn đang ở đâu đó trên mảnh đất Việt Nam này..."
Một giọt nước mắt rơi xuống góc giấy.
Anh vội lau đi.
Sáng hôm sau, sân đình đông kín người.
Những chàng trai tuổi mười tám, đôi mươi khoác ba lô, đầu đội mũ tai bèo đứng thành hàng. Tiếng trống tiễn quân vang lên dồn dập.
Mẹ Lâm dúi vào tay con trai một nắm cơm nếp còn nóng và mấy quả trứng luộc.
Bà nghẹn ngào:
"Đi mạnh giỏi con nhé! Mẹ ở nhà chờ..."
Lâm chỉ biết gật đầu.
Anh không dám quay lại thêm lần nào nữa.
Lá thư được anh đặt dưới chiếc gối của mẹ trước lúc rời nhà.
Những năm tháng sau đó là chuỗi ngày hành quân dọc dãy Trường Sơn, vượt suối, băng rừng, đối mặt với bom đạn, sốt rét và những trận đánh ác liệt.
Lâm trở thành chiến sĩ thông tin.
Nhiệm vụ của anh là bảo đảm đường dây liên lạc thông suốt giữa các đơn vị. Có những đêm, bom vừa dứt, anh lại cùng đồng đội bò đi nối từng đoạn dây bị đứt.
Anh từng nhiều lần thoát chết trong gang tấc.
Mỗi khi nhớ nhà, anh lại lấy bức ảnh mẹ đã cũ ra ngắm rồi cất thật kỹ vào túi áo ngực.
Thế nhưng, mùa hè năm 1972, trong một trận bom dữ dội, Lâm cùng nhiều đồng đội bị vùi lấp khi đang sửa đường dây.
Đồng đội tìm thấy anh khi trời đã sáng.
Trong túi áo ngực vẫn còn nguyên tấm ảnh người mẹ.
Ở quê nhà, giấy báo tử được gửi về sau đó vài tháng.
Mẹ Lâm ngồi lặng trước hiên nhà rất lâu.
Bà không khóc thành tiếng.
Lặng lẽ bước vào buồng, bà lấy chiếc gối cũ.
Bên dưới vẫn còn lá thư mà con trai để lại trước ngày nhập ngũ.
Những dòng chữ đã nhòe đi theo thời gian.
Bà đọc đi đọc lại hàng trăm lần.
Có những đoạn bà đã thuộc lòng.
Năm tháng trôi qua.
Đất nước thống nhất.
Những người lính lần lượt trở về.
Riêng Lâm mãi mãi nằm lại nơi chiến trường.
Chiếc hòm gỗ cũ trong căn nhà nhỏ vẫn được người mẹ gìn giữ như báu vật.
Trong đó chỉ có vài kỷ vật giản dị: tấm ảnh đen trắng, chiếc khăn tay đã bạc màu và lá thư cuối cùng.
Sau khi mẹ mất, con cháu mở chiếc hòm.
Lá thư được ép cẩn thận trong tấm kính mỏng.
Người cháu nội đọc từng dòng chữ mà cổ họng nghẹn lại.
Cậu chưa từng gặp ông mình.
Nhưng qua những nét chữ mộc mạc ấy, cậu hiểu rằng người thanh niên năm xưa đã ra đi không phải vì mong được ghi công hay trở thành anh hùng.
Ông ra đi vì tin rằng sẽ có một ngày đất nước hòa bình, trẻ em được đến trường, người dân được cày cấy trên những cánh đồng không còn tiếng bom rơi.
Ngày nay, mỗi dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, gia đình lại mang lá thư ấy ra đọc.
Không chỉ để nhớ về một người con đã hy sinh, mà còn để nhắc nhở con cháu rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng tuổi xuân, bằng những lời hẹn chưa kịp thực hiện và bằng biết bao lá thư không bao giờ có hồi âm.
Có những bức thư chỉ viết một lần trong đời.
Nhưng lại sống mãi với thời gian.
Bởi trong từng dòng chữ là tình yêu gia đình, tình yêu quê hương và khát vọng độc lập của cả một thế hệ đã đi qua một thời hoa lửa.



