Lá thư đặt dưới gốc cây bằng lăng
Ở một con đường nhỏ của Huế, ven sông An Cựu, có một cây bằng lăng già. Vào mùa hè, hoa tím nở rợp, rơi xuống mặt đường như mưa tím. Năm 1972, dưới gốc cây đó, có một lá thư không người nhận. Người ta kể rằng lá thư do một cô sinh viên tên Diệu viết cho người yêu là Minh – một chiến sĩ đang chiến đấu tại Quảng Trị. Trong thư, Diệu viết: “Minh ơi, khi anh về, mình sẽ gặp nhau dưới gốc bằng lăng này. Hoa sẽ nở nhiều lắm. Em sẽ kể anh nghe những ngày Huế mưa, những ngày em học bài dưới đèn dầu, v
Ở một con đường nhỏ của Huế, ven sông An Cựu, có một cây bằng lăng già. Vào mùa hè, hoa tím nở rợp, rơi xuống mặt đường như mưa tím.
Năm 1972, dưới gốc cây đó, có một lá thư không người nhận. Người ta kể rằng lá thư do một cô sinh viên tên Diệu viết cho người yêu là Minh – một chiến sĩ đang chiến đấu tại Quảng Trị.
Trong thư, Diệu viết:
“Minh ơi, khi anh về, mình sẽ gặp nhau dưới gốc bằng lăng này. Hoa sẽ nở nhiều lắm. Em sẽ kể anh nghe những ngày Huế mưa, những ngày em học bài dưới đèn dầu, và cả những đêm em lo cho anh đến không ngủ được…”
Diệu gửi thư qua đường giao liên. Nhưng đoàn giao liên hôm ấy đi vào vùng lửa đạn. Lá thư bị rơi lại dưới gốc cây, ướt mưa, bám bùn. Một cụ già đi ngang nhặt lên, đọc rồi ép lại, cất vào túi áo. Cụ sợ rằng có khi người nhận sẽ chẳng bao giờ biết mình được nhớ thương đến nhường nào.
Đến ngày hòa bình, cụ mang thư đến nhà Diệu. Nhưng cửa nhà đóng kín. Người hàng xóm nói khẽ:
— Diệu bị trúng bom mất rồi, ngay trước ngày Huế giải phóng…
Cụ già đứng rất lâu, rồi lặng lẽ mang lá thư trở lại gốc bằng lăng, đặt xuống như trả về một lời hẹn chưa trọn.
Nhiều năm sau, người dân vẫn thấy một lá thư được ép trong hộp kính nhỏ dưới gốc cây. Ai đi ngang cũng dừng lại, đọc đôi dòng chữ nhòe. Và mỗi mùa bằng lăng nở, hoa rơi xuống phủ tím lên tờ giấy, như thể thời gian vẫn đang cố thay Diệu giữ lời hẹn năm nào.


