Khác

LÁ THƯ GIỮA MÙA BOM ĐẠN

Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn ác liệt. Ở nhiều vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, địch tăng cường càn quét, lập đồn bốt, chia cắt làng mạc. Tin tức từ vùng tạm chiếm gửi ra chiến khu ngày càng thưa thớt, bởi mỗi lá thư, mỗi mảnh giấy đều có thể đổi bằng máu.

20/03/2026SƯU TẦM (LỤC YÊN)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn ác liệt. Ở nhiều vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, địch tăng cường càn quét, lập đồn bốt, chia cắt làng mạc. Tin tức từ vùng tạm chiếm gửi ra chiến khu ngày càng thưa thớt, bởi mỗi lá thư, mỗi mảnh giấy đều có thể đổi bằng máu.

Trong một buổi sáng mù sương ở căn cứ Việt Bắc, Bác Hồ ngồi trầm ngâm bên bàn làm việc. Trước mặt Bác là danh sách những địa phương vừa bị địch đánh phá. Có tên những làng quê nghèo, có cả những vùng Bác từng đi qua, từng ở lại, từng ăn chung bát cơm độn sắn với bà con.

Bác cầm bút, suy nghĩ rất lâu, rồi bắt đầu viết một bức thư. Chữ Bác đều đặn, chậm rãi, từng dòng ngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều tình cảm:

“Đồng bào trong vùng tạm chiếm thân mến…Dù giặc có đốt nhà, cướp của, giết người, đồng bào ta nhất định không khuất phục…”

Viết xong, Bác gấp thư lại cẩn thận. Không đề tên người nhận cụ thể, chỉ ghi: “Gửi đồng bào yêu nước”.

Vấn đề còn lại là: làm sao để lá thư đến được nơi cần đến?

Chiều hôm ấy, Bác gọi Hòa, một chiến sĩ giao liên mới ngoài hai mươi tuổi. Hòa quê ở Nam Định, từng nhiều lần băng qua vùng địch tạm chiếm, gan dạ và thông thạo đường làng ngõ xóm.

Bác trao lá thư cho Hòa, dặn dò:

Chuyến này rất nguy hiểm. Nếu thấy không an toàn, chú có thể hủy thư, bảo toàn tính mạng.

Hòa đứng nghiêm, hai tay đón lấy bức thư như đón một mệnh lệnh thiêng liêng:

Thưa Bác, dù có phải hy sinh, cháu cũng quyết đưa thư đến tay đồng bào.

Bác nhìn Hòa, ánh mắt vừa nghiêm nghị vừa thương yêu:

Bác tin chú. Nhưng nhớ một điều: giữ mình để còn tiếp tục làm việc cho nước.

Hòa lên đường ngay trong đêm. Anh cải trang thành người buôn thúng bán bưng, vai mang đôi quang gánh, bên trong giấu lá thư trong ống tre nhỏ. Mỗi bước chân đi qua làng mạc đều phải hết sức cẩn trọng. Địch lập nhiều trạm gác, lính tuần tra liên tục hỏi giấy, xét người.

Có lần, Hòa bị lính Pháp chặn lại giữa cầu. Tên lính nhìn chằm chằm vào quang gánh, nghi ngờ hỏi:

Mày mang gì?

Hòa bình tĩnh đáp:

Thưa ông, toàn khoai lang với ít muối đem bán.

Tên lính lục lọi hồi lâu, đá tung mấy củ khoai xuống đất rồi mới cho đi. Hòa bước tiếp mà mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng. Chỉ cần chậm một chút, lá thư có thể đã bị phát hiện.

Sau nhiều ngày đêm vượt qua rừng rậm, ruộng lầy, làng xóm tiêu điều vì chiến tranh, Hòa đến được một làng thuộc vùng tạm chiếm. Ban đêm, anh bí mật gặp các cơ sở cách mạng, trao lá thư cho một cụ già từng tham gia phong trào Việt Minh.

Cụ già run run mở thư, đọc từng dòng dưới ánh đèn dầu yếu ớt. Đọc xong, cụ lặng người hồi lâu, rồi chậm rãi nói: Có Bác, dân mình còn hy vọng.

Nội dung bức thư nhanh chóng được chép tay, truyền miệng khắp các xóm làng. Người dân chuyền nhau từng câu chữ của Bác, như chuyền nhau niềm tin giữa những ngày tăm tối. Có nhà bị địch đốt sạch, nhưng vẫn giấu mảnh giấy chép thư trong ống tre, trong nếp áo, coi đó như báu vật.

Ở một làng khác, khi giặc dồn dân ra đình để uy hiếp, một người nông dân đứng lên nói lớn:

Bác Hồ còn tin dân mình, thì dân mình không thể phản bội Bác!

Câu nói ấy lan ra, khiến nhiều người càng thêm vững lòng, dù trước họng súng và nhà tù.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Hòa tìm đường trở về căn cứ. Trên đường, anh bị phục kích, trúng đạn vào vai. Cố nén đau, anh bò vào rừng, được dân làng cứu chữa. Mãi hơn một tháng sau, Hòa mới về đến Việt Bắc.

Gặp lại Bác, Hòa gầy đi nhiều, vết thương chưa lành hẳn. Bác nắm tay anh thật chặt, giọng xúc động:

Chú đã làm được việc rất lớn cho đồng bào, cho kháng chiến.

Hòa nghẹn ngào:

Thưa Bác, cháu chỉ là người đưa thư. Chính lá thư của Bác mới là sức mạnh.

Bác lắc đầu:

Không có người đưa, thư không đến. Việc nhỏ nhưng ý nghĩa lớn.

Nhiều năm sau, khi đất nước đã hòa bình, Hòa có dịp trở lại những làng quê năm xưa. Chiến tranh đã qua, nhưng trong ký ức của người dân, bức thư không đề tên người nhận ấy vẫn còn nguyên vẹn. Họ kể cho con cháu nghe rằng, giữa mùa bom đạn ác liệt nhất, đã có một lá thư từ Bác Hồ vượt qua súng đạn, đến với dân, để nhắc họ rằng: Tổ quốc chưa bao giờ quên họ, và họ cũng không bao giờ được phép quên Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn