LÁ THƯ GỬI TỪ QUÊ BIỂN
Người viết từng nghe nhiều cựu chiến binh kể rằng trong chiến tranh, thứ quý giá nhất với người lính ngoài tình đồng đội chính là thư nhà. Chỉ một lá thư nhỏ cũng đủ khiến những người lính trẻ vui suốt nhiều ngày. Với bác Trần Văn Hùng cũng vậy. Bác bảo rằng suốt gần mười năm quân ngũ, điều bác mong nhất mỗi lần đơn vị nhận công văn hay tiếp tế là có thư từ quê gửi vào. “Nghe gọi tên nhận thư là mừng lắm,” bác cười hiền. Người viết nhìn ánh mắt bác ánh lên niềm xúc động khi nhắc về những lá thư cũ đã úa màu theo thời gian. Bác kể rằng ngày ấy việc gửi thư rất khó khăn. Từ quê Hoằng Tiến, lá thư phải đi qua nhiều nơi mới đến được đơn vị ngoài chiến trường. Có khi mất cả tháng trời người lính mới nhận được thư nhà. “Nhưng chỉ cần nhận được là vui rồi,” bác nói. Trong chiếc ba lô quân dụng cũ, bác từng cất giữ rất nhiều lá thư của mẹ và các em ở quê gửi vào. Có lá thư giấy đã nhàu nát vì đi mưa rừng. Có lá chữ nhòe vì bác đọc quá nhiều lần. “Những hôm nhớ nhà quá lại lấy thư ra đọc,” bác kể nhỏ. Người viết hiểu rằng với người lính nơi chiến trường xa xôi, những dòng chữ mộc mạc từ quê hương chính là nguồn an ủi lớn lao nhất. Bác Hùng nhớ nhất là lá thư mẹ gửi vào cuối năm 1975. Khi ấy đơn vị bác đang hành quân tại một khu vực rừng núi Tây Nguyên. Cuộc sống vô cùng thiếu thốn. Những cơn sốt rét rừng liên tiếp khiến nhiều chiến sĩ suy kiệt. “Có thời gian anh em gầy sọp đi,” bác nhớ lại. Giữa những ngày gian khổ ấy, bác nhận được thư từ quê nhà. Bác kể rằng lúc ấy bác ngồi dưới một gốc cây lớn, mở từng nếp giấy đã hơi ẩm vì mưa rừng. Chữ của mẹ không đẹp nhưng rất nắn nót. “Mẹ viết rằng ở nhà mọi người vẫn khỏe, bảo tôi yên tâm công tác,” bác xúc động kể. Người viết lặng im khi nghe bác nhắc lại từng câu chữ giản dị mà đầy yêu thương ấy. Trong thư, mẹ bác còn kể chuyện biển Hoằng Tiến năm ấy được mùa cá, chuyện em trai đã biết phụ cha kéo lưới và chuyện cây bàng trước sân nhà bắt đầu thay lá. “Đọc đến đâu tôi nhớ nhà đến đó,” bác cười mà mắt đỏ hoe. Giữa núi rừng xa lạ, chỉ vài dòng chữ về quê hương thôi cũng đủ khiến người lính trẻ thấy lòng mình ấm lại. Bác kể rằng có những đêm hành quân mệt quá, bác lại lấy thư mẹ ra đọc dưới ánh đèn pin nhỏ. “Đọc xong thấy có thêm sức lực,” bác nói. Người viết hiểu rằng trong chiến tranh, tình cảm gia đình chính là động lực giúp người lính vượt qua những tháng ngày gian khổ nhất. Không chỉ nhận thư, bác Hùng còn thường xuyên viết thư gửi về quê. “Viết xong phải nhờ đơn vị chuyển hộ,” bác kể. Nhưng người lính khi viết thư thường chỉ kể điều vui, giấu đi mọi gian khổ và hiểm nguy. “Tôi chưa bao giờ dám kể chuyện chiến đấu ác liệt cho mẹ biết,” bác nói nhỏ.
“Sợ bà lo.” Trong những lá thư gửi về quê, bác thường kể chuyện đơn vị khỏe mạnh, chuyện đồng đội đoàn kết và dặn gia đình yên tâm. Có lần sau trận sốt rét nặng tưởng không qua khỏi, vừa tỉnh lại bác đã xin giấy viết thư về nhà. “Tôi chỉ muốn báo cho mẹ biết mình vẫn còn sống,” bác xúc động kể. Người viết cảm nhận được nỗi lòng của những người lính trẻ năm ấy. Giữa ranh giới sống chết nơi chiến trường, điều họ mong nhất vẫn là gia đình được bình yên. Bác Hùng kể rằng trong đơn vị, mỗi lần có thư nhà là cả tiểu đội đều vui lây. Có người đọc thư xong cười cả buổi. Có người lặng lẽ quay đi lau nước mắt vì nhớ mẹ. “Có đồng chí nhận tin cha mất mà không thể về,” bác trầm giọng. Chiến tranh không chỉ là bom đạn mà còn là những mất mát âm thầm như thế. Có những lá thư chưa kịp gửi đã mãi mãi nằm lại trong ba lô của người lính hy sinh nơi chiến trường. Mỗi lần nhắc đến điều ấy, bác Hùng lại lặng đi rất lâu. “Tuổi trẻ ngày ấy nhiều hy sinh lắm,” bác nói khẽ. Sau ngày xuất ngũ trở về Hoằng Tiến, bác vẫn giữ lại gần như toàn bộ những lá thư cũ của gia đình. Bác cẩn thận bọc chúng trong túi nilon rồi cất vào chiếc hòm gỗ nhỏ. “Đó là kỷ niệm quý giá nhất đời lính,” bác nói. Nhiều năm qua đi, giấy thư đã ngả màu vàng cũ, nét chữ cũng mờ dần theo thời gian. Nhưng mỗi lần mở lại, bác vẫn nhớ rõ cảm xúc của người lính trẻ năm nào khi nhận thư giữa rừng sâu. Người viết nhìn những lá thư cũ mà cảm nhận được sức mạnh kỳ diệu của tình thân trong chiến tranh. Chính những lá thư giản dị ấy đã tiếp thêm niềm tin để người lính vượt qua bom đạn, bệnh tật và nỗi nhớ quê hương da diết. Đến hôm nay, khi cuộc sống hiện đại đã có điện thoại và mạng internet, bác Hùng vẫn cho rằng không điều gì có thể thay thế cảm giác hồi hộp khi cầm trên tay lá thư từ quê gửi đến. “Thư ngày ấy ít chữ thôi nhưng chứa cả tình thương,” bác cười hiền. Cuối buổi trò chuyện, bác Hùng cẩn thận xếp lại những lá thư cũ rồi chậm rãi nói: “Chiến tranh qua lâu rồi nhưng mỗi lần đọc lại thư mẹ, tôi vẫn thấy như mình



