Bài viết

LÁ THƯ KHÔNG KỊP GỬI

Lào Cai22/05/2026sưu tầm (Tuổi trẻ xã Bảo Thắng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi sinh năm 1949, quê ở Thái Bình. Năm hai mươi tuổi, tôi rời cánh đồng lúa đang thì con gái để vào chiến trường miền Nam. Tôi là y tá quân y, nhiệm vụ là chăm sóc thương binh trong một trạm phẫu dã chiến nằm sâu dưới tán rừng.

Ngày ấy, chúng tôi sống trong những căn hầm thấp, mái phủ lá cây, bên trên là tiếng bom, bên dưới là tiếng rên của thương binh. Tôi đã từng nghĩ mình là người mạnh mẽ, nhưng lần đầu cầm tay một chiến sĩ trẻ đang hấp hối, tôi đã khóc đến nghẹn thở.

Anh tên là Hòa, sinh năm 1948, hơn tôi một tuổi. Anh được đưa vào trạm trong một chiều mưa, người đầy máu, chân trái bị thương nặng. Khi tôi cắt lớp băng cũ ra, anh vẫn cố cười: “Cô y tá đừng run, tôi còn chịu được.”

Tôi đỏ mặt, vì quả thật tay tôi đang run.

Những ngày sau, anh nằm lại trạm. Vết thương nặng nhưng anh rất lạc quan. Anh thường kể cho tôi nghe về quê anh ở Nghệ An, có mẹ già, có giàn thiên lý trước sân và một cô em gái hay khóc nhè. Tôi chăm sóc anh mỗi ngày, thay băng, sắc thuốc, nấu cháo loãng. Giữa tiếng bom đạn, chúng tôi nói với nhau những câu chuyện rất bình thường: mùa lúa, bến sông, mùi khói bếp, bữa cơm có cà pháo muối.

Một hôm, anh nhờ tôi lấy trong túi áo ra một lá thư. Lá thư viết dở, nét chữ nghiêng nghiêng. Anh bảo: “Tôi định gửi cho mẹ, nhưng chưa viết xong. Cô giữ giúp tôi. Khi nào tôi khỏe, tôi viết tiếp.”

Tôi cất lá thư vào túi áo ngực, gần trái tim mình.

Nhưng chiến tranh không chờ ai khỏe lại. Một đêm, trạm phẫu bị bom đánh trúng khu vực gần hầm thuốc. Đất đá đổ xuống, đèn tắt phụt. Chúng tôi vừa kéo thương binh ra ngoài vừa dập lửa. Anh Hòa khi ấy vẫn còn yếu, nhưng lại cố chống tay ngồi dậy để nhường cáng cho một người bị thương nặng hơn.

Tôi quát anh: “Anh nằm xuống!”

Anh chỉ cười: “Người kia cần hơn tôi.”

Sau trận bom, anh yếu đi rất nhanh. Tôi ngồi bên anh, nghe hơi thở anh mỏng dần. Anh nhìn tôi, nói khẽ: “Nếu tôi không về… cô gửi thư cho mẹ tôi nhé.”

Tôi nắm tay anh, nước mắt rơi xuống mu bàn tay đầy vết xước của anh. Tôi bảo: “Anh sẽ về. Anh còn phải viết tiếp thư.”

Anh không trả lời. Anh nhìn lên khoảng trời nhỏ ngoài cửa hầm, nơi một vệt sáng mờ đang hiện ra sau tán lá. Rồi anh đi, nhẹ như một giấc ngủ.

Sau ngày ấy, tôi mở lá thư ra đọc. Trong thư, anh viết: “Mẹ kính yêu, con vẫn khỏe. Ở đây đồng đội thương nhau lắm. Mẹ đừng lo cho con…” Lá thư dừng lại ở đó. Không có lời cuối, không có ngày tháng, không có chữ ký trọn vẹn.

Tôi đã gửi lá thư ấy về quê anh, kèm theo một mảnh giấy nhỏ kể rằng anh đã sống rất dũng cảm. Nhiều tháng sau, tôi nhận được thư mẹ anh. Bà viết: “Cảm ơn cô đã chăm sóc con tôi. Tôi coi cô như con gái trong nhà.”

Tôi ôm lá thư của bà khóc suốt một buổi chiều.

Sau chiến tranh, tôi trở về quê, làm y tá ở trạm xá xã. Tôi lấy chồng, sinh con, rồi già đi theo năm tháng. Nhưng trong chiếc hộp gỗ nhỏ, tôi vẫn giữ bản chép lại lá thư không kịp gửi của anh Hòa. Mỗi lần mở ra, tôi lại nghe tiếng anh cười, thấy đôi mắt sáng của anh giữa căn hầm tối.

Có những lá thư không bao giờ viết xong. Có những người không kịp trở về. Nhưng tình yêu quê hương, tình đồng đội và lòng hy sinh của họ thì không bao giờ dang dở.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn